Responsive Navbar with Dropdown

Home About

Responsive Topnav with Dropdown




**~***** Việt Nam Quê Hương Tôi ******  Vietnam My Native Land ****** Vietnam Mon Pays Natal ********* Vietnam **** ******   Việt Nam  *** 



Monday, February 1, 2016

CHÙA HƯƠNG TÍCH


Mùa xuân về thăm chùa Hương Tích qua những bức ảnh của Thượng tọa Thích Minh Hiền


CHÙA HƯƠNG TÍCH
香積寺
Thủ đô Hà Nội

Thường gọi tắt là chùa Hương, một quần thể danh lam thắng cảnh nằm trên địa bàn xã Hương Sơn, một xã rộng khoảng 30km2, ở huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây cũ, nằm ven bờ phải sông Đáy. Đây cũng là một vùng có những dãy núi đá vôi nhấp nhô kề bên những dòng suối uốn lượn quanh co. Trên núi, hay trong các hang, ở các thôn Yến Vĩ, Đục Khê, Hội Xá và Phú Yên người ta đã xây dựng nhiều đền, chùa, mà trung tâm là chùa Hương trong động Hương Tích.
Vùng Hương Sơn bắt đầu có chùa Phật vào khoảng thế kỷ XV, nhưng các ngôi chùa chính được xây dựng với quy mô lớn là vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Cho đến đầu thế kỷ XX, trong khu vực này, đã có hơn một trăm ngôi chùa.
Để thăm các chùa ở Hương Sơn, người hành hương và khách du lịch thường đi theo các tuyến đường khác nhau. Tuyến chính là từ bến Yến, đi thuyền theo suối Yến, đến bến Trò (tức bến Thiên Trù). Cũng có thể đi theo con đường bộ ven chân núi. Trên đường từ bến Yến vào bến Trò, người ta dừng thuyền ở đền Trình (có nghĩa là nơi "trình diện" với thần linh) trên núi Ngũ Nhạc. Đây là đền thờ một vị thần núi. Trên dòng suối Yến, có một nếp cầu gỗ khá đẹp, gọi là cầu Hội. Từ chân cầu bên trái, có thể đi vào ngôi chùa Thanh Sơn trong một động núi.
Cuối suối Yến là bến Trò, từ đây lên bộ đến chùa Trò, tức chùa Thiên Trù (có nghĩa là "Bếp Trời"), còn được gọi là chùa Ngoài. Từ bến vào chùa có một nhà bia, trong có tấm bia "Thiên Trù tự bi ký" dựng năm Chính Hòa thứ 7 (1686), ghi lại những hoạt động tu sửa chùa Thiên Trù và chùa Hương Tích của nhà sư Viên Quang.
Giữa sân chùa có một đỉnh đồng cao 3m. Cạnh sân có hồ bán nguyệt và vườn tháp. Trong vườn tháp, còn có ngôi tháp Viên Công chứa hài cốt nhà sư Viên Quang, được dựng từ thế kỷ XVII. Tháp xây gạch trần màu đỏ, có 4 tầng, tầng thứ 2 và thứ 3 có mái cong với các đầu đao. Ở chùa Thiên Trù hiện còn quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1793) thời Tây Sơn. Bài minh cho biết người đi quyên góp để đúc quả chuông này là nhà sư Hải Viên. Xưa kia, Thiên Trù là một kiến trúc lớn, nhưng đã bị phá hủy năm 1947. Ngôi chùa hiện tại nhỏ hơn ngôi chùa cũ. Bái đường và hậu cung chùa Thiên Trù mới được xây dựng lại gần đây. Giữa điện thờ Phật có tượng Quan Âm Nam Hải bằng đá, tạc theo mẫu tượng trong chùa Hương Tích nhưng được phóng to gấp 2,5 lần, cao đến 2,8m.
Gần chùa Thiên Trù là núi Tiên, có chùa Tiên ở trong hang. Trong chùa, có 5 pho tượng bằng đá do những người thợ đá ở Kiện Khê (Hà Nam) tạc năm 1907, dựa vào truyền thuyết Bà Chúa Ba Diệu Thiện đã đắc đạo thành Quan Thế Âm ở Hương Sơn. Tượng Bà Chúa Ba ở giữa. Phía trước là tượng người chị cả Diệu Thanh cưỡi sư tử xanh (tức: đã trở thành Bồ Tát Văn Thù) và tượng người chị thứ hai Diệu Âm cưỡi voi trắng (tức: đã trở thành Bồ Tát Phổ Hiền). Phía sau là tượng vua cha và hoàng hậu mẹ của Bà Chúa Ba.
Giữa đường từ chùa Thiên Trù đến chùa Hương là chùa Giải Oan. Gần chùa này có động Tuyết Kinh và đền Cửa Võng, thờ mẫu Thượng Ngàn.
Từ chùa Thiên Trù, theo đường núi quanh co và nhiều dốc, khoảng 2km, ta đến chùa Hương, trong động Hương Tích, còn gọi là chùa Trong. Đường xuống hang chùa là một dốc gồm 120 bậc lát đá. Vách đá trước cửa động có năm chữ Hán "Nam thiên đệ nhất động" (nghĩa là Động thứ nhất ở trời Nam) khắc năm 1770, đời chúa Trịnh Sâm. Hang khá rộng, có nhiều nhũ đá với hình dạng khác nhau, được gọi bằng các tên như: Núi Cô, Núi Cậu, Đụn Gạo, Đụn Tiền, Buồng Tằm, Nong Kén,... Trên bệ thờ Phật, còn có pho tượng Quan Âm bằng đá khá đẹp, ngồi ở tư thế đặc biệt, tay cầm viên ngọc minh châu, chân trái duỗi, đặt trên một bông sen, chân phải co, dưới chân cũng có một bông sen với lá mềm mại. Theo bài ký khắc trên đá năm 1806 thì pho tượng này được tạc năm 1793. Trong động Hương Tích còn quả chuông đồng cao 1,24m, đường kính đáy 0,63m, đúc năm Thịnh Đức thứ 3 (1655). Từ chùa Thiên Trù, có lối rẽ qua rừng mơ, đến chùa Hinh Bồng.
Một tuyến hành hương khác là theo suối Tuyết đến chùa Bảo Đài. Trong chùa còn giữ được một pho tượng Cửu Long bằng đồng rất đẹp. Từ chùa Bảo Đài, theo một con đường phẳng, ta đến chùa Tuyết trong động Tuyết Sơn, cũng gọi là động Ngọc Long. Chùa Tuyết do một bà quận chúa thời Trịnh dựng vào năm 1694. Ở đây, còn có phù điêu chân dung bà tạc vào vách động.
Một tuyến đường nữa là theo một nhánh của suối Yến, qua núi Ông Sư Bà Vãi, cập bến Long Vân. Từ chùa, vượt qua một con đường núi, đến một thung lũng trồng dâu. Gần đó có chùa Cây Khế, cũng ở trong một hang núi. Cách đó vài trăm mét, có hang Sũng Sàm, một di chỉ văn hóa Hòa Bình thời đại đá đã được các nhà khảo cổ học khai quật.
Chùa Hương Tích đã qua nhiều đời liệt Tổ trụ trì. Từ đời Lê Thánh Tông (thế kỷ XV) đã có 3 vị Hòa thượng đến tu hành tại đây. Đến năm 1687, Hòa thượng Trần Đạo Viên Quang đã đến đây dựng lại thảo am thờ Phật ở Hương Sơn. Từ đó đến nay chùa Hương Tích đã qua 12 đời Hòa thượng trụ trì. Các vị trụ trì gần đây là: Hòa thượng Thích Thanh Tích (1881-1964), Hòa thượng Thích Thanh Chân (1905-1989), Hòa thượng Thích Viên Thành (1950-2002). Vị trụ trì hiện nay - Đời thứ 12 là Thượng tọa Thích Minh Hiền, chuyên tâm thờ Phật và tiếp tục công việc tôn tạo của các vị Hòa thượng lớp trước.
Hội chùa Hương Sơn là hội chùa kéo dài nhất ở Việt Nam. Hàng chục vạn người đã trẩy hội chùa trong suốt ba tháng sau Tết Nguyên đán Âm lịch.

Nguyễn Văn Kự
---------------------------------------------
(*)Nguồn: Chùa Việt Nam. Hà Văn Tấn – Nguyễn Văn Kự – Phạm Ngọc Long. Biên tập: Lê Văn Lan – Nguyễn Duy Chiếm. Nxb Thế giới, in lần thứ tư. 2010 có chỉnh lý bổ sung, tr.246.
Ảnh: Thượng tọa Thích Minh Hiền, Trụ trì chùa Hương Tích.
alt
Suối Yến


alt


alt
Đền Trình


alt
Toàn cảnh chùa Thiên Trù


alt
Nam Thiên Môn


alt
Chùa Thiên Trù


alt
 Nhà Mẫu
alt
 Nhà Bia
alt
 Tháp đá Trân Tịnh
alt
 Chùa Tiên Sơn
alt
 Chùa Giải Oan
alt
 Động Hương Tích
alt
Phật bà trong động Hương Tích 

-VIDEO :-Em Đi Chùa Hương_Thanh Truc & Tu Quyen






 Động Hương Tích


  
Đàn thông phách suối vang lừng,
Cá khe lắng kệ, chim rừng nghe Kinh.

Hát nói:
Bầu trời cảnh bụt,
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay.
Kìa non non, nước nước, mây mây,
Đệ nhất động hỏi là đây có phải ?
Thỏ thẻ rừng Mai chim cúng trái,
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh.
Thoảng bên tai một tiếng chày kình,
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng,
Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh.
Nhác trông lên ai khéo vẽ hình,
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt.
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt,
Chập chờn mấy lối uốn thang mây.
Chừng giang sơn còn đợi ai đây,
Hay tạo hoá khéo ra tay sắp đặt ?
Lần tràng hạt niệm nam mô Phật,
Cửa từ bi công đức biết là bao.
Càng trông phong cảnh càng yêu!


-VIDEO : Chùa Hương


Nhà tôi cũng có gốc sung
Quả sai ríu rít nhìn không thấy già
Sum suê cành lá là rà
Quả xanh chấm muối cắn là thấy ngon
Mấy cô mấy cậu măng non
Thèm me,thèm sấu lại còn thèm sung


-VIDEO :

Mộng lành (Hoàng Trọng - Hồ Đình Phương)

 

Loan Châu










                                                 AO LÀNG







Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.





Có rửa, thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh !

















-VIDEO :Bức Họa Đồng Quê - Tam Ca 3A



-Cò Lả - quan họ :





-VIDEO :Hương Xưa (Cung Tiến) - Lệ Thu






-Hoa Soan Bên Thềm Cũ - Nhạc : Tuấn Khanh - Ca Sĩ : Thanh Lan



-Women Of Hanoi (1930) :


Bảo Lộc_Di Linh_Tỉnh Lâm Đồng




Bảo Lộc_Tỉnh Lâm Đồng



-Bảo Lộc_1971_"Kinh Thựơng Đoàn Kết"   :
Bao Loc 1971 - photo by tellico

-Toà Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng tại Bảo Lộc ngày xưa...


(Năm 1970)..
.




Bảo Lộc Town - Lâm Đồng 1970 - Photo by Don Fenno


Bao Loc 1969 - photo by Ron Sanders 

Tượng đài : Kinh Thựong Đoàn Kết _An Cư _ Lạc Nghiệp  tại ngã tư trứơc Toà Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng_Hiện nay không còn nữa,Việt Cộng đã phá hủy.


-Hoa Nở Muôn Màu :
Muôn Màu Hoa Nở


-Xem :-Bản Đồ Google : Bảo Lộc,Tỉnh Lâm Đồng,Việt Nam






Bảo Lộc

Bảo Lộc (tên cũ: B'Lao) là một thành phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng.

Lịch sử:

Bảo lộc, trước đây là một vùng đất rộng lớn từng được biết đến với tên gọi B'lao, là địa bàn sinh sống chủ yếu của người dân tộc Mạ.
Ngay từ giữa thế kỷ XIX, trong quá trình mở mang bờ cõi nhà Nguyễn đã thiết lập các phủ, huyện, các thuộc để quản lý các vùng đất này.
Vào những năm 1877, Nguyễn Thông đã từng dâng sớ xin lập đồn điền khai khẩn vùng thượng du Sơn quốc nhưng không thành (trong đó có vùng đất Di linh).
Đến năm 1893, bác sĩ Alexandre Yersin khảo sát vùng cao nguyên Lâm Viên đã tìm ra Đà Lạt và cùng lúc phát hiện ra vùng đất B’lao. Vùng đất B’lao đã được người Pháp đặt vấn đề khai thác sớm cùng một lúc với việc xây dựng đô thị Đà Lạt.
Năm 1899 một phái đoàn người Pháp do ông Ernest Outrey chỉ huy, mở cuộc thám hiểm tìm hiểu khả năng vùng Đồng Nai Thượng và vạch một con đường nối liền vùng này (Djiring) với Bình Thuận (Phan Thiết).

Ngày 1/11/1899, toàn quyền Paul Doumer ký quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut Donnai) trong đó bao gồm vùng đất B’lao và đặt tỉnh lỵ tại Djiring.

Đến năm 1905, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, Djiring và B’lao lại được sát nhập vào tỉnh Bình Thuận.
Đến năm 1920 Tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut Donnai) lại được tái lập với 3 đại lý hành chính: 3 quận B’lao (Bảo Lộc), quận Djiring (Dilính) và Quận Dran Fyan (Đơn Dương). Tỉnh Đồng Nai Thượng vẫn đặt tỉnh lỵ tại Djiring (Di Linh).
Lúc này địa giới B’lao rất rộng, bao gồm một phần đất thuộc quận Tánh Linh (Bình Thuận), một phần đất thuộc Quận Định Quán (Long Khánh).Cùng thời gian này, năm 1916 Đà Lạt trở thành tỉnh ly của LangBiang.

Năm 1932, tuyến đường từ Sài Gòn lên Đà Lạt qua Bảo Lộc (quốc lộ 20 hiện nay) được hình thành.
Cho đến năm 1950, Bảo Đại tách tây nguyên thành lập Hoàng triều cương thổ trực thuộc quốc trưởng, bộ máy hành chính B’lao vẫn giữ chức trách một đại lý hành chính của chính quyền thuộc địa.
Đến ngày 19/5/1958, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, sau đó ngày 30/6/1958 tách quận Dran (Đơn dương) ra khỏi tỉnh Lâm Đồng sát nhập vào tỉnh Tuyên Đức.

Tỉnh Lâm Đồng còn 2 quận: B’lao đổi thành Bảo Lộc và Djiring thành Di Linh. Địa giới tỉnh, quận vào thời gian này cũng có sự điều chỉnh. Quận Bảo Lộc cắt một phần đất giao cho Tánh Linh của tỉnh Bình Tuy, một phần giao cho quận Định Quán của tỉnh Long Khánh. Quận Bảo Lộc còn từ Madaguoil (Dahuoai hiện nay) trở lên. Cũng từ thời điểm năm 1958 trở về sau, mãi cho đến năm 1979 địa danh B’lao không còn trên các văn bản hành chính.

Ngày 30/11/1958 Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng. Tên gọi Bảo Lộc chính thức thay thế tên B’lao từ ngày 19/2/1959. Công việc kiến thiết mở mang đô thị mới cũng bắt đầu phát triển mạnh từ thời gian này.

Cư dân ở vùng đất B’lao Bảo Lộc ban đầu chủ yếu là người dân tộc bản địa Mạ và Kơ Ho, trong đó người Mạ chiếm đa số. Địa vực của người Mạ từ xa xưa đã ở trong vùng Cát Tiên - Dateh trở xuống phía Đồng Nai. Khi có vương quốc Phù Nam, người Mạ mới thiên cư lên vùng Cao nguyên Di Linh địa phận Bảo Lộc, Bảo Lâm ngày nay. Dân tộc Mạ là một cộng đồng người thống nhất, có một tên gọi chung, một ngôn ngữ chung và ý thức chung. Bên cạnh việc bảo lưu những giá trị văn hóa vật thể đặc sắc dân tộc Mạ còn giữ gìn một kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian rất phong phú với nhiều truyền thuyết, thần thoại, cổ tích, dân ca, gian dao nhiều nhạc cụ cổ truyền phong phú như đàn đá, chiêng...

Cư dân người kinh ở B’lao vào thời kỳ ban đầu hầu như không đáng kể. Mãi đến năm 1930, B’lao mới chỉ có khoảng 8 gia đình người kinh. Năm 1936 có 20 gia đình. Môi trường dần được cải thiện nên công nhân từ các nơi đến lập nghiệp ngày càng đông,nhất là người bắc sau khi đã mãn hợp đồng ở Cămpuchia không về xứ mà tìm lên B’lao...

Năm 1930 Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập tại Công Hinh (B’lao) một Trung tâm thực nghiệm Nông học rộng khoảng 1.000 Ha (sau trở thành Trường Quốc gia Nông Lâm Mục vào năm 1955);

Quốc lộ 20 chính thức được khai trương vào tháng 7 năm 1932...
Năm 1938 đường bộ từ Sài gòn lên Đà Lạt qua đèo B’lao được hoàn chỉnh, từ đó đã tạo nên sức thu hút khá lớn dân cư vùng lân cận và kể cả việc tuyển mộ công nhân. Những năm sau đó hệ thống các đồn điền chè đã mọc lên khá tập trung tại khu vực Bảo Lộc...

Năm 1940 tiếp nhận thêm 20 gia đình, năm 1942, tiếp nhận thêm 80 gia đình. Những hộ này được bố trí tập trung tại khu vực trung tâm thực nghiệm nông học và các đồn điền trà.
Nhìn chung, trong thời kỳ 1945 - 1954, xây dựng cơ bản trên đất Lâm Đồng không đáng kể do cuộc chiến ngày càng bất lợi cho người Pháp...ở các vùng Djiring, B’lao, việc xây dựng hạ tầng phát triển đơn điệu, ít được đầu tư...đường giao thông chỉ là những con đường đất từ trung tâm thực nghiệm đến các đồn điền trà lân cận...

Đến tháng 9/1954 một sổ lớn đồng bào di cư được đưa đến định cư nâng tổng số dân lên đến 15.000 người. Sau đợt di cư, B’lao có khoảng 50 cơ sở trồng trà và đồng bào đến định cư đã lập thêm 6 làng: Tân Phát, Tân Thanh, Thánh Tâm. Tân Hà, Tân Bùi, Lam Sơn, sau này thành 5 xã.
Cho đến năm 1957 dân số B’lao đã tăng nhanh, lên đến 37.832 nhân khẩu, trong đó người dân tộc là 16.517 người.

Đến trước năm 1975 số dân B’Lao có 76.000 người, trong đó có 27.000 người dân tộc, đa số là người Mạ.
Năm 1979 có 77.513 người; năm 1989 có 128.587 người;
năm 1999 có 135.701 người.

Bảo Lộc chỉ được phát triển từ sau năm 1958, sau khi dời tỉnh lỵ từ Di linh về Bảo Lộc, trong đó có một số công trình sau :

-Tòa Hành Chánh Tỉnh xây dựng và hoàn thành năm 1959;
-Chợ cũ nằm gần Quốc lộ 20 bị cháy năm 1959 được xây dựng lại tại khu vực mới hiện nay hoàn thành vào năm 1961,
-Nhà Máy Điện Bảo Lộc xây dựng năm 1957,
-Nhà máy nước xây dựng năm 1962;
-1960 Bưu Điện Bảo Lộc được xây dựng.
-Từ năm 1963, bộ mặt Bảo Lộc đã khang trang hơn sau gần 4 năm xây dựng. Hệ thống đường nội thị bắt đầu được trải nhựa.
-Trong năm 1965, ở đây đã tiến hành sửa chữa và mở thêm một số tuyến đường từ trung tâm thị xã tới các xã như đường Thiện Lập, Tân Phát, Tân Rai, đường liên ấp Lam Sơn – Thiện Lập, đường Konhinđa, đường Thanh Hương, Thanh Xuân...

-Sân bay Bischenée được sửa chữa tu bổ năm 1964 chỉ sử dụng cho một số máy bay du lịch loại nhỏ(Cessna), va C-130 cargo plane...
-Sân bay Lộc Phát xây dựng năm 1966(Sân bay Bảo Lộc ,Trứơc 1975 còn gọi là Phi Trừơng KOHINDA Bảo Lộc) sử dụng cho máy bay quân sự...

Trước năm 1975, nhìn chung kinh tế của Bảo Lộc phát triển chủ yếu là ngành sản xuất chế biến chè. khai thác gỗ và lâm sản.Với ưu thế có một lịch sử khá lâu đời của cây chè, Bảo lộc có mấy chục nông trướng, đồn điền chè lớn nhỏ, vài chục cơ sở chế biến chè trên địa bàn hàng năm cung cấp một sản lượng chè đáng kể cho thị trường trong và ngoài nước. Các ngành nghề sản xuất khác như chăn nuôi gia súc, trồng dâu nuôi tằm, trồng và chế biến cà phê, hoạt động tiểu thủ công nghiệp khác chưa phát triển mạnh mẽ do nguyên nhân chiến tranh song cũng cho thấy những tiềm năng triển vọng của nó vào thời gian sau này.

Hoạt động văn hóa và thiết chế văn hóa trên địa bàn Bảo Lộc trước 1975 hầu như chưa có gì.
Những năm 1958 - 1960, ở Bảo lộc đã hình thành một rạp hát tư thiết kế bằng gỗ mang tên người chủ Lâm Đô nằm ở địa bàn phường B’lao ngày nay, bên cạnh quốc lộ 20, chủ yếu đón các gánh hát cải lương ở Sai gòn về biểu diễn phục vu..,
một sân tennis ở gần rạp hát chủ yếu cho công chức giải trí.

Về sau vào những năm 1970 một rạp chiếu phim mang tên Hoàng Huê có sức chứa 500 người được xây dựng ở khu chợ mới, trên đường Lê Hồng Phong, gần trung tâm văn hóa ngày nay được coi là thiết chế văn hóa giải trí duy nhất ở Bảo Lộc bấy giờ. Ngoài ra còn có một số cơ sở in typô của tư nhân, vài nhà sách đáp ứng nhu cầu của địa phương.

Thị xã Bảo lộc ngày nay là một trong sổ 11 huyện, thành, thị xã thuộc tỉnh Lâm Đồng, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, công nghiệp xếp vào vị trí thứ hai của tỉnh Lâm Đồng sau thành phố Đà Lạt.

Thị xã Bảo Lộc nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lâm Đồng, trên cao nguyên Di linh – Bảo Lộc, ở độ cao 800 mét so với mặt biển, gắn với trục quốc lộ 20 nối liền Saigon và Bảo Lộc; phía Bắc. phía Đông và phía Nam giáp huyện Bảo Lâm; phía Tây và Tây Nam giáp huyện Đa Huoai.

Với diện tích tự nhiên 232.4 km2, Thị xã Bảo Lộc có 11 đơn vị hành chính gồm 6 phường (Phường 1, phường 2, phường B’Lao, Lộc Phát, Lộc Tiến, phường Lộc Sơn) và 5 xã : Lộc Nga, Lộc Châu, Lộc Thanh, Đại Lào, xã ĐamBri.

Bảo Lộc có khí hậu quanh năm mát mẻ. không quá lạnh, cũng không quá nóng, nhiệt độ trung bình 22 – 24 độ C, Bảo lộc có lượng mưa khá lớn (2.762 mm), không có tháng nào không có mưa. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm khá lớn, trung bình là 10-30 độ C. Sương mù xuất hiện ở Bảo Lộc nhiều nhất tỉnh do độ ẩm cao, trung bình mỗi năm có 85 ngày có sương mù tập trung vào những tháng cuối mùa mưa.
Bảo Lộc có nhiều thắng cảnh như đèo Bảo Lộc, thác Đam Bri, hồ Nam Phương, suối Đá Bàn, núi Đại Bình (S'pung)... cùng với những đồi trà thoai thoải xanh mượt mà làm cho Bảo Lộc càng thêm xinh tươi, trù phú.

Trước đây, vùng đất Bảo Lộc bao gồm cả các huyện Bảo Lâm, Đạ Tẻh, Cát TiênĐạ Huoai bây giờ, là địa bàn cư trú của người Mạ.

-Sau năm 1975, Bảo Lộc là tên huyện của tỉnh Lâm Đồng hợp nhất. Sau đó, huyện lại tách thành các huyện Bảo Lộc, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên.

Từ đó, huyện Bảo Lộc có 1 thị trấn B'lao và 15 xã: Lộc Tân, Lộc Tiến, Lộc Sơn, Lộc Phát, Lộc Châu, Lộc Thanh, Lộc Nga, Lộc Thắng, Lộc Lâm, Lộc Bắc, Lộc Ngãi, Lộc Đức, Lộc An, Lộc Thành, Lộc Nam.

- Ngày 11 tháng 7 năm 1994, Chính phủ quyết định chia huyện Bảo Lộc thành 2 đơn vị hành chính là thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm, gồm 6 phường: 1, 2, B'lao, Lộc Phát, Lộc Sơn, Lộc Tiến và 4 xã: Đạm Bri, Lộc Châu, Lộc Nga, Lộc Thanh.

-Ngày 18 tháng 6 năm 1999, chia xã Lộc Châu thành 2 xã: Lộc Châu và Đại Lào.

-Ngày 8 tháng 4 năm 2010, chính phủ ra Nghị quyết 19/NQ-CP nâng cấp thị xã Bảo Lộc trở thành thành phố Bảo Lộc.

Sưu Tầm



Kinh Thượng Đoàn Kết - Bảo Lộc Town - Lâm Đồng 1968-69 - Photo by Jose Diaz.Nhà ngói phía sau là Ty Ngân Khố Bảo Lộc,Tĩnh Lâm Đồng



Bao Loc 1971 - photo by tellico

-Toà Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng tại Bảo Lộc _1970 :
Bảo Lộc - Lâm Đồng 1970 - Photo by Don Fenno




Hồ Đồng Nai – 1967/1968. Ảnh : J. Westenskow

Bờ hồ Bảo Lộc năm 1966.
Bảo Lộc Lake - Bảo Lộc Town - Lâm Đồng 1968/69 - Photo by Jose Diaz


Câu Lạc Bộ Công Chức Tỉnh Lâm Đồng và Nhà Thủy Tạ tại Hồ Bảo lộc 1970.
-Bảo Lộc Lake - Bảo Lộc - Lâm Đồng 1970 - Photo by Don Fenno


Bảo Lộc Aerial - Photo by Peter A. Bird 1971


Chợ Bảo Lộc - Không Ảnh 1967 - Photo by Ken Thompson

Đường Cách Mạng trước chợ mới


Lemke - Baoloc Market 1971


Chợ Bảo Lộc 1969_Bao Loc Market.
BAO LOC by Ken Thompson


BAO LOC by Ken Thompson


BAO LOC by Ken Thompson



CHỢ BẢO LỘC

CHỢ CŨ, CHỢ MỚI
Từ năm 2014, một công trình đồ sộ chiếm lĩnh một khu đất rộng trung tâm của cả một khu vực rộng lớn của khu Đô thị mới Hà Giang Thành Phố Bảo Lộc, công trình này đang trong bước hoàn thiện, ai cũng biết đó là cái Chợ : Chợ Mới Bảo Lộc.Còn có tên gọi Chợ Trung Tâm Thành phố Bảo Lộc
Như vậy là xứ Blao này có thêm một cái chợ mới nữa!
Và cái chợ hiện tại nằm trên đường Lê Hồng Phong sẽ được mang tên cái chợ cũ là đương nhiên, nhưng với mọi thần dân của Blao ngày nào vẫn gọi tên chợ này là Chợ Mới từ năm 1960 đến giờ.
Một địa danh khác là Chợ Cũ vẫn còn được dùng, đó là vùng đất trước nhà thờ Bảo Lộc, trước UBND phường Blao, nó nằm trong góc tư của đường Trần Phú và đường Lý tự Trọng.
Nhắc lại rằng trước năm 1954 khu vục thuộc cánh nam con đường 20 trước văn phòng quận trưởng Blao là khu mua bán gồm các quán chạp phô của các vị khách trú là Hòa Ký, Bình Ký, Vận Ký, Ba Khình, Vĩnh thái.. còn người Việt thì có bà Nhơn Hương Giang, Ông Thợ Triêm, ông Thập Lân, Ông Xã Bắc, ông Hương Cu… Mạn bắc con đường là khoảng đất trống thuộc sở mới mà dọc đường phía đó được trồng cây muồng xiêm ( Cassia seame )dân thời ấy quen gọi là cây keo.
Nếu tính tiếp con đường nối dài từ văn phòng quận ra , qua đường 20 là một đường đất chạy ngang qua chuồng bò thẳng qua đồng cỏ của sở mới ( trước 1975 là đường Nguyễn Thái Học, nay là đường Lý Tự Trọng ) năm 1955- 1956 ngay đầu đường người ta mở rộng làm bến xe, song song đó thì một số nhà của được xây dụng quanh , hàng quán cũng theo quốc lộ cho đến trước nhà thờ.

Phần đất theo đó người ta bắt đầu họp chợ lấy nhà bò của sở mới là trung tâm . Đó cái chợ đầu tiên của xứ Blao nầy.

Cái chợ này thành hình cũng do dân cư nơi đây tăng vọt bởi lẽ sau hiệp định Geneve nhóm người di cư miền từ miền Bắc vào, ở ngay Blao, và các trại định cư quanh vùng bắt đầu thành lập, thêm vào đó một thể chế mới được thành hình vua Bảo Đại bị truất phế mở đầu cho chính thể cộng hòa. Chính chỗ phần đất họp chợ này trước kia là nơi tổ chức các cuộc mit ting biểu tình, cũng là chỗ các đoàn ảo thuật, sơn đông mãi võ thường đến diễn trò.Có một gian hàng bên cạnh bến xe chuyên bán cơm và thức uống được nhiều người biết đến của Mai Lan Phương –Ngọc Chiếu vốn là đào kép của một đoàn cải lương đến diễn tại Blao rồi tan hàng rả đám mở tiệm ăn.
Cái chợ này thành hình không lâu thì bị cháy khoảng 1957. May mắn chỉ cháy từ đường trung tâm vào chợ về phía tây đến tiệm ăn Mai lan Phương Ngọc Chiếu.

Lần thứ hai, lại cháy nhưng không nằm trong phạm vi chợ mà theo dãy phố của người hoa kiều ở mạn nam con đường QL 20 từ trước cổng quận cho đến gần cổng nhà thờ, lúc bấy giờ các nhà này đều làm bằng gỗ lợp tôn kẽm, xuất phát cháy đầu tiên tiệm Vĩnh Thái, là nhà của “cô Bảy Xếnh Xáng” một người phụ nữ Việt lấy chồng người Hoa. Sau vụ cháy, dãy phố này được xây dựng lại bằng gạch với các hiệu: Hòa Bình Ký, Bánh Mì Vĩnh Thái, nhà thuốc Lai Sanh,Vận Ký, Diệu Huê, Tam Hưng Tửu Gia, Tiệm vàng đồng hồ Phú Cường, tiệm sách Việt Cường.

Vào năm 1961 thì vụ hỏa hoạn lớn thiêu rụi khu vực chợ, thuộc mạn bắc con đừơng kéo dài từ bến xe cho đến trước cổng nhà thờ hình như nhà cuối cùng là nhà sách Văn Hóa của ông Nguyễn văn Kha, trước đó là tiệm tạp hóa rồi đến hiệu Giặt ủi Quang Trung, tiến về phía trung tâm chợ còn các tiệm may Minh Thu, tiệm may Thời Đại, tiệm giày Bình Lợi, tiệm phở Trung Việt… Vụ cháy lần này như một sự xóa sổ cái chợ cũ lụp xụp tạm bợ để tập trung về cái chợ được mang danh chính thức là chợ Bảo lộc đã được thành hình nằm trên đường cánh đông xuất phát từ tòa hành chính mang tên là đường Cách Mạng, hiện nay là đường Lê Hồng Phong (2015). Được gọi là chợ mới.

Sau vụ cháy đó, một số hiệu buôn từ chợ cũ chuyển sang là trà Quốc Thái, tiệm vàng Bào Ngọc, tiệm may Hưng Thành, hiệu giày Bình Lợi,may Thời Đại..Riêng hiệu giặt ủi Quang Trung không tiếp tục ,theo lời ông Vũ Bình Minh con trai của ông Vũ xuân Tưởng cho biết ba ông vào Nam trước năm 1940 làm việc ở xửơng Ba Son Sài Gòn, khi ông được 10 tuổi gia đình mới chuyển về Blao mở tiệm giặt ủi đó là tiệm giặt ủi đầu tiên xứ này, có thể trong nhóm dân di cư vào đất Blao lúc ấy có họ hàng thân thích với gia đình ? thời gian đó sau khi đậu tiểu học, ông học ở trường Cộng Hòa, chuyển ra Phan thiết, đậu văn bằng tú tài ông học sư phạm, đang dạy học bị động viên sau về tiểu khu Lâm Đồng. Nay ông bà Vũ Bình Minh là chủ cơ sở Chế biến Cà phê và Khách sạn Minh Quân trên đường Trần Phú gần bờ hồ Bảo Lộc.
Khu chợ mới Bảo lộc ( 1961 ) gồm một chợ lồng nơi bán quân áo hàng tạp hóa và một khu riêng bán hàng thực phẩm khô, thịt cá, rau cải… nay vẫn còn, trước mặt chợ là đường Lê Hồng Phong là dảy Kiosque ba mặt còn lại tiếp giáp với các đường Lê thị Pha, Phan Bội Châu, Nguyễn Công Trứ gồm các dãy phố hai tầng. Dãy phố hai tầng ấy cùng một kiểu cũng được xây từ đầu chợ theo đường Cách Mạng hướng vế tòa hành chính.

Trở lại cái chuồng bò của sở mới, là cái khung chính của chợ Blao ngày nào, nói là chuồng bò chứ thực ra là một cái khung nhà trống trơn chỉ có mái tôn và sườn cột. Ngày còn bé chúng tôi vẫn thường vào chơi nơi ấy sau khi tắm suối số 3, suối lò than hay lội rừng hái sim hái lan, hình như chỉ là chỗ cho bò nghỉ nắng vào trưa mà thôi, lúc ấy đàn bò của trường Nông Lâm Mục nhiều lắm có cả trâu Ấn độ nữa, mãi đến khi tôi vào học Nông Lâm Súc thì mới thấy cái chuồng nhốt bò ban đêm ở mé rừng sau lô trà số 2 gần chuồng ngựa.

Sau khi chợ dời đi họp ở nơi mới , thì khung chuồng bò ấy được gở đi cùng một phần nhà kho gần đó người ta xây dựng làm cái nhà thương đầu tiên ở xứ này, nó nằm trước nhà thờ. Phần nhà kho còn lại Linh mục Lan đã mượn trường Quốc Gia Nông Lâm Mục làm trường Trung học tư thục Cộng Hòa nằm trên đường Phát Diệm ( nay là đường Nguyễn văn Trỗi ) cùng lúc đó thị thượng tọa thích Giác Đức mở trường Tư Thục Bồ Đề tại chùa Phước Huệ,

Đến năm 1970, khi bệnh viện Bảo lộc được xây dựng xong sau tòa hành chánh ( nay là BV II Lâm Đồng ) thì bệnh viện trước nhà thờ trở thành khu ở tập thể của nhân viên bệnh viện. Sau năm 1975 là văn phòng làm việc của xã Thiện Thành rồi văn Phòng thị trấn Blao.

Câu chuyện lòng vòng chỉ có một xác nhà từ chuồng bò đến chợ, từ chợ đến nhà thương. Nên xin phép kể thêm rằng lý do nào lại làm cái nhà thương cạnh quốc lộ 20 trước nhà thờ có nghĩa là khu dân cư đông đúc ồn ào ? Sỡ dĩ lập nơi ấy vì trước đó có một trạm xá là nhà gỗ lợp tôn người dân bấy giờ gọi là nhà thương Phi Luật Tân vì do nhóm quân y Phi Luật Tân phục vụ. Thực sự trong thời Pháp thuộc dù gọi là nhà thương thí, nhưng cũng chỉ là trạm xá nó là căn nhà gỗ đầu đường vào sở Bảo Đại trước trừơng Quốc Gia Nông Lâm Mục.

Cái nhà thương Phi Luật Tân đó sau năm 1975 trở thành cái trạm xá của ấp Thiện Thành, cái nhà thương thí của Pháp không làm chức năng đó nữa từ khi có cái nhà thương Phi luật Tân và cái xác nhà của nó qua nhiều đời chủ : ông Nguyễn Đức Bích, từ 1973 ông Trần Hiệp giám đốc nhà thuốc sâu Chánh Hiệp Sài gòn, cuối cùng là của ông Tạ Chí Ba, sau năm 2000 mới thay hình đổi dạng.
Ngoài cái chợ mới như đã nói trên thì các khu định cư các xã lân cận cũng lập chơ như : Chợ Tân Bùi, Chợ Tân Hà, Chợ Đại Lào, chợ Tân Thanh… Bảo lộc là chợ trung tâm nên thường vào chủ nhật rất đông người đến mua sắm, các chợ khác chỉ họp vào buổi sáng chủ yếu cung cấp hàng thực phẩm nhu yếu, có một chợ được gọi là chợ chiều, vì nó chỉ họp vào buổi chiều nó nằm ngay khúc cua đầu tiên vào Ferme chủ yếu bán hàng thực phẩm cho những bà con gần đó, nay không còn nữa.


-VIEW :Chuyện Blao...Bùi Tho_pdf.


Quốc Lộ 20, gần bờ hồ Bảo Lộc, năm 1970

QL20 HW - Bảo Lộc Town - Lâm Đồng 1970 - Photo by Don Fenno_Ngã Ba Tiên Dung (lấy tên Tiệm Ảnh "Tiên Dung"ngay đầu ngõ).

2012-02-15_Ngã Ba Tiên Dung (lấy tên Tiệm Ảnh "Tiên Dung"ngay đầu ngõ)
Nhà Thờ Bảo Lộc - Lâm Đồng 1967-68 - Photo by J. Westenskow

Nhà Thờ Bảo Lộc - Lâm Đồng 1967-68 - Photo by J. Westenskow


Tượng Ðức Mẹ Trong Hang Lộ Ðức Tại Giáo Xứ Bảo Lộc.
 - Photo by J. Westenskow

Shell Gas Station - Bảo Lộc District - Lâm Đồng 1967-68 - Photo by J. Westenskow.

...Một tiệm tạp hóa trên quốc lộ 20, gần nhà thờ Bảo Lộc, những năm trước 1970....

Bao Loc _ 1969.
-Phố Bảo Lộc 1969 (dãy phố giữa nhà thờ và quận Bảo Lộc)_Quốc Lộ 20.
( khu vục thuộc cánh nam con đường QL 20 trước văn phòng quận trưởng Blao là khu mua bán gồm các quán chạp phô
của các vị khách trú là Hòa Ký, Bình Ký, Vận Ký, Ba Khình, Vĩnh thái.. )


QL20 HW - Bảo Lộc Town - Lâm Đồng 1968/69 - Photo by Jose Diaz.(Nhìn Tháp Chuông Nhà Thờ cũ sẽ nhận ra khu này:Lối đi vào Quận Hành Chánh Bảo Lộc).

2017_March_Khu phố Bảo Lộc từ Cổng Quận Bảo Lộc chạy tới Nhà Thờ Bảo Lộc ngay nay.(Nhìn Tháp Chuông Nhà Thờ cũ sẽ nhận ra khu này)

Sân bay Bảo Lộc - Airfield (Photo by Peter Bird - 1971)


Bao Loc VN 1967
 Photo taken at Bao Loc in November/December 1967. C-123's and a C-130 are in the back ground. Our helicopters are parked in earthen revetments.


Bao Loc VN Dec 1967 - 117th AHC
Vietnam December 1967. We lived in tents during our stay at Bao Loc. From Bao Loc we moved to the airforce base at Bien Hoa.

Bao Loc VN Dec 1967 117th AHC tents
 In Bao Loc we lived in these tents. For an aviation unit, we were roughing it. I spent Christmas Eve in one of these: Went out and looked at the stars and wondered what my family was doing so many thousands of miles away.


Sân bay Bảo Lộc Aerial - 1967

-US Army Helicopters  at  a Tea Plantation In Bao Loc  1967


Tea Plantation Bao Loc Dec 1967
 Tea plantation near our tent city/temporary base at Bao Loc, Vietnam, December 1967.


A U.S. Air Force Cessna O-1F Bird Dog (s/n 57-2977) taking off at Bao (Loc?), South Vietnam. This aircraft was also used by the Air America as "Raven" aircraft (unregistered forward air control aicraft uses in Laos). It was later sold to the Royal Thai Air Force as "O-72977".


BAO LOC by Ken Thompson


C-130-Airstrip---Bao-Loc-RVN-67


Phi trường - Bảo Lộc - Air strip (Photo by Grapeman 1967)


BAO LOC by Ken Thompson_ Dam Rong Waterfall,Bao Loc,Lam Dong.


1969_Dam Rong Waterfall,Bao Loc,Lam Dong.


Bao Loc 1969 by Morsen


BAO LOC by Ken Thompson


Bao Loc Convoy 1970 - Photo by George E. Wellock
(.Cầu Đại Nga ngày ấy.).

Xe khách ngày xưa

-VIEW : 54 giờ trong rừng Bảo Lộc_Phạm Công Khanh 64 C.

-VIEW:BAOLOC_May 1969_December 1970_Album #1_Photo by Don Fenno

-VIEW :BAOLOC 1969-70__Album#2_ Photo by Don Fenno.

-VIEW :BAOLOC 1969-_Album#3_Photo by Don Fenno.



-VIEW :VIETNAM DALAT :SUR LES TRACES DU PASSE du 18 au 22-12-2016.(à Dalat et à Blao).





Après de nombreuses recherches, nous réussissons à localiser Blao, le petit village où tu as vécu. Situé à 120km de Dalat, le village se trouve tout près de la ville nouvelle de Bao Loc. En traversant la région, nous découvrons toutes les plantations de thé et de café.. Tu vois maman, le travail de grand père a porté ses fruits.. il y a toujours un peu de vous ici.  Blao nous plonge immédiatement dans un monde rurale attachant, toute l'activité tourne autour du café et du thé, d'ailleurs chaque maison a ses cultures dans le jardin, le café est même séché sur les routes du village. Uniques touristes dans le coin, nous attisons vite la curiosité, et ce n'est pas du café que nous récoltons mais de nombreux sourires et des "hello" à tout va, le thé nous est même offert. Nous passerons plusieurs heures à rechercher votre maison avec l'aide des habitants, sans malheureusement la découvrir.. La découvrir parce que certaines maisons d'époques sont encore debout mais éparpillées, et il ne serait pas étonnant qu'elle soit encore dans le coin.. Mais pour nous c'était déjà énorme de pouvoir revenir sur vos pas et de te faire partager ça.


- Khu Chợ Bảo Lộc  : 













Một góc đường Phan Bội Châu sáng sớm




Đường Lê Thị Pha nơi có cafe Ngọc Ký nổi tiếng




2004-05-04_Visiting Bao Loc Market and Bao Loc City, Lam Dong :






2015-August 9 at 9:05am_Ngày cuối cùng của khu chợ "chồm hổm" Bảo Lộc, kể từ ngày mai sẽ không còn nhìn thấy cảnh này ở đây nữa!


- Chợ Bảo Lộc (1990 - 2015)  : 





-VIEW : Photos of BAOLOC_Baoloc Where I used to live :




2015 Aug 15_New" Bao Loc Market"


Nhà thờ tin lành Bảo Lộc


-Mời xem Photos-Visiting Bao Loc City 2012-02-15

-Video clip : Tết 2012_ Bảo Lộc  :

Oct 17, 2015



-Đồi Trà Bảo Lộc:





-VIDEO :Bảo Lộc City (Central Highlands)_Thác Damb'Ri_Đồi Trà Tâm Châu_Thác Dasara tại Bảo Lộc ,Tỉnh Lâm Đồng.






  -  Trà Bảo Lộc  (2015):


-Cây Mít:




-Hoa cà phê :





Thu Hoạch Cà Phê tai Bảo Lộc.

-Bảo Lộc Sky View - Demo_Oct 17, 2015.

Trà Đỗ Hửu ở Thành Phố Bảo Lộc

- ĐỖ HỮU - Câu Chuyện Của Chúng Tôi :



-VIDEO :
Bảo Lộc, Thành Phố Hương Trà (2014)


Trà Phú Sơn (FUSHAN) tại Bảo Lộc - Lâm Đồng


2010_12_03_Mr Quang Minh @ His Fushan Tea _ Bao Loc

-Thăm nông trường và nhà máy trà Phú Sơn tại Bảo Lộc - Lâm Đồng :


-Hoa Trà  :



Vietnam - Dambri Waterfall at Bao Loc by Drone 4K : __Oct 6, 2017.




- Du lịch thác Damb'ri (Bảo Lộc, Lâm Đồng) DAMB'RI _Jul 31, 2017

- Bao Loc CityNov 22, 2012 :


Áo dài Bảo Lộc_14-04-2013 :





-Bao Loc City _Drone Cam_Mar 17, 2016:

-Thành phố Bảo Lộc (Lâm Đồng) ngày nay 2016


-Thành Phổ Bảo Lộc Lâm Đồng_ May 20, 2017





-Why Bao Loc is better than Dalat. Vietnam Travel :_
 Nov 28, 2015



-Thành Phố Bảo Lộc - Một Vòng Qua Góc Nhìn Drone Cam_Aug 17, 2017


-Dạo một vòng Bảo Lộc nào...August 27, 2017_by Drone :

-  Cùng khám phá Thành Phố Bảo Lộc_HD _2018 :

- Popular Videos - Bảo Lộc :



-Hồ Bảo Lộc :




-VIEW :Bảo Lộc Tôi Yêu_Photos











- Hồ Bảo Lộc







2017_Bao Loc City from Above.

2017 June_Bao Loc Lake

 















-View: -SERI HOTEL_ KHÁCH SẠN SERI_TP BẢO LỘC .


-Bao Loc City_February 07, 2017: 







- Bao Loc From Above :


Bảo Lộc nhìn từ trên cao.
































Trung tâm Trà Và cà phê Tâm Châu, Bảo Lộc (B'Lao)









Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc


-Lịch Sử Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc :


Thị xã Bảo Lộc nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lâm Đồng, trên cao nguyên Di linh - Bảo Lộc, ở độ cao 800 mét so với mặt biển, gắn với trục quốc lộ 20 nối liền thành phố Sàigon và Bảo Lộc.
Bảo Lộc có khí hậu quanh năm mát mẻ, không quá lạnh, cũng không quá nóng. nhiệt độ trung bình 22º-24ºC.  Bảo lộc có lượng mưa khá lớn (2.762 mm), không có tháng nào không có mưa. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm khá lớn, trung bình là 10º-30ºC. Sương mù xuất hiện ở Bảo Lộc nhiều do độ ẩm cao, trung bình mỗi năm có 85 ngày có sương mù tập trung vào những tháng cuối mùa mưa.
Năm 1930 Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập tại Công Hinh (B'lao), một Trung tâm thực nghiệm Nông học rộng khoảng 1.000 Ha, đó là cơ sở đầu tiên, sau đó đã trở thành Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục vào năm 1955. Diện tích trường nếu kể cả các khu ngũ cốc , vườn cỏ, các thí điểm vườn ương, cây ãn trái, vườn cam, có thể nói rộng lên tới 200 mẫu tây tức khoảng gần 500 acres mẫu hoa Kỳ. Trường nằm bên trái trên đường vào thị xã Bảo Lộc, dọc trên quốc lộ 20, đường đi Di Linh/Đa Lat, ngay tại mốc cây số 187 km tính từ Saigòn. Du khách đi Dà Lạt, khi đi tới hồ Đỗ Hữu, là có thể nhìn thấy các dẫy biệt thự xinh xắn, đó là các dẫy nhà cũa các thầy cô. Có thể nói đây là một ngôi trường trung học về văn hoá và chuyên môn lớn nhất nước vào thời đó.
Trường được thành lập năm 1955 và đặt tên là trường Quốc Gia Nông Lâm Mục và đào tạo hai cấp bậc cao đẳng và trung đẳng từ năm 1955-1963. Theo thầy Đặng Quan Điện, nguyên Giám Đốc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, thầy là người đã khai sinh ra ngành giáo dục trung học kỹ thuật Nông Lâm Súc kể từ năm 1963, từ năm đó trường đã được đổi tên là trường Trung Hoc Nông Lâm Súc Bảo Lộc, và trực thuộc Nha Học Vụ Nông Lâm Súc, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, qua một số nghị  định sau:
  • Nghị định số 136-BCTNT/NĐ/HC/2 ngày 26-3-62 của Bộ Cải Tiến Nông Thôn chuyển giao nhiệm vụ và cơ sở kỹ thuật Canh Nông và các học đường đặt thuộc quyền Bộ Quốc Gia Giáo Dục.
  • Nghị định số 1377-GD/PC/NĐ ngày 30-9-63 của Bộ QGGD tổ chức Nha Học vụ Nông Lâm Súc.
  • Nghị định số 1185-GD/PC/NĐ ngày 24-8-63 của Bộ Quốc Gia Giáo Dục cải tổ trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc thành trường trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc.
Chương trình học gồm hai phần, phổ thông và chuyên môn.Học sinh tốt nghiệp với văn bằng Tú Tài II NLS, sau đó tùy theo điều kiện và khả năng, học sinh có thể tiếp tục theo đuổi chương trình Kỹ Sư 4 năm hay Kiểm Sự một năm hoặc chuyển qua một ngành nghề mới tại bất cứ một trường Đại Học nào.  Học sinh gia nhập trường NLS-BL phải qua một kỳ thi tuyển. Những năm đầu trường tổ chức thi tuyển vào ba hệ đệ Ngũ, đệ Tứ và đệ Tam, sau đó trường chỉ  còn 2 hệ, hệ đệ Ngũ học 5 năm và hệ Đệ Tam học 3 năm. Ở cấp trung học đệ nhị cấp, mỗi lớp gồm có 3 ngành: Thủy Lâm, Canh Nông và Mục Súc, và đến niên khoá 70-71 trường có thêm ngành Công-Thôn . Trường quy tụ các học sinh từ Sai gon cho đến các tỉnh miền Trung, Cao Nguyên, Đồng Bằng Sông Cửu Long, và điạ phương Lâm Đồng.
Có thể nói vào thời gian đó, trường trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc là một trường có tầm vóc to lớn, cơ sở đầy đủ và đẹp nhất cuả vùng Đông Nam Á Trường có hệ thống nhà ở cho hiệu trưởng và các thầy cô, và các nhân viên công chức làm việc cho trường.  Trường còn có hệ thống nội trú cho học sinh, được sắp xếp theo lớp từ Đệ Ngũ tới Đệ Nhất, gồm có 4 lưu xá cho nam sinh, A, B, C, D và một lưu xá E cho nữ sinh. Trường có Ban Đai Diện Truờng và ban Kinh Tế do hoc sinh bầu ra để đại diện cho học sinh và lo vấn đề cơm nước.
Trường có đầy đủ sinh hoạt về mọi lãnh vực như:
  • Thể thao gồm có các sân Đá Banh, Bóng Rổ, Chạy bộ, Quần Vợt, Volley, Võ đường
  • Văn Nghệ với một Đại Thính Đường với sức chứa khoảng 1000 người.
  • Giáo Dục với các phòng thí nghiệm sinh học, côn trùng, thú y, thực vật, lâm học; các trại chăn nuôi gà, thỏ, heo, ngựa và trâu bò, xưởng Nông Cơ.  Để gíup hoc sinh làm quen với thiên nhiên, trường còn có một hệ thống vườn rau cải, vườn cam, vườn café, và vườn trồng cây rừng giống, chưa kể bao chung quanh trường là hàng trăm hecta rừng thiên nhiên với đủ loại cây rừng và cây kỹ nghệ như trà và cà phê. 
Sau khi tốt nghiệp trung học, một số đông học sinh theo đuổi tiếp chương trình Kiểm Sự hay Sư Phạm Nông Lâm Súc; và sau đó trở về phục vụ tại Bộ Canh Nông, các Ty Nông Nghiệp/ Hạt Thủy Lâm, hoặc về các trường trung học Nông Lâm Súc trên toàn quốc từ các tỉnh vùng cao nguyên xuống tới vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sau biến cố 1975, một số thầy cô và anh chị đã định cư tại Hoa Kỳ và nhiều nơi khác trên thế giới; một số còn lại ở Việt Nam, tiếp tục hoạt động trong lãnh vực Nông Nghiệp, hoặc chuyển qua các ngành nghề tư nhân khác.
Hiện nay Trường đã được đổi tên là trường Trung Học Kỹ Thuật và Dạy Nghề của tỉnh Lâm Đồng.
[IMG]
-Trường Nông - Lâm - Súc ngày xưa
Hay còn gọi là trường Nông - Lâm - Mục.

alt
Đại Thính Đường trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc




Hoàng Hoa Lộ_ Nông Lâm Súc Bảo Lộc

Trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Bảo Lộc_June 28, 2016 :




Mấy ngày thong thả, tôi và Sơn đi dạo khắp nơi để tìm nhà trọ. Thật đúng như lời của một bản nhạc "đi dăm phút đã trở về chốn cũ..." Phố Bảo Lộc nằm dọc theo quốc lộ, chỉ có một đoạn ngắn chưa đầy nửa cây số. Bắt đầu từ trường Nông Lâm Súc, chạy thoai thoải xuống dốc, đến cuối dốc là một cái hồ nước, trông giống như cái lòng chảo là hết. Lên dốc, hai bên là những đồi trà ngút ngàn. Lâm Đồng là xứ trà.....
 -Mời xem :ball Về Một Quảng Đời Của Trịnh Công Sơn_Nguyễn Thanh Ty.(Những   ngày Trịnh  lang thang  ở  Blao  (Bảo-Lộc )
Tĩnh Lâm Đồng_Người viết bài này có dịp gần gũi và sống chung với Trịnh Công Sơn một thời gian, từ năm 1962 đến 1967 , nên biết được đôi điều về cuộc đời thường của nhạc sĩ họ Trịnh này. )


Từ trái sang phảiNguyễn Hảo Tâm (hiện sống tại Austin, Texas), Nguyễn Thanh Ty (Tác giả viết bài này), Nguyễn Văn Ba, và Trịnh Công Sơn.    Ảnh chụp năm 1964,Tại Bờ Hồ Bảo Lộc,phía sau là Cầu trắng.






-Xem Phim Đất Khổ : 
      



XEM PHIM:  ball  Đất Khổ - VIETNAM: Land of Sorrows (1973)_Diễn viên : Trịnh Công Sơn đóng vai chính, Kim Cương,Bích Thuận, Vân Quỳnh, Xuân Hà, Minh Trường Sơn, Jerry Liles._
Truyện phim dựa trên cuốn :ball  Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca.pdf ( In lần đầu tại Sài Gòn 1969, giải thưởng văn học nghệ thuật quốc gia 1970) . 



-VIEW : ball  lịch sử phim Đất Khổ


image

Bản dịch tiếng Anh tác phẩm Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca,( nguyên bản tiếng Việt được xuất bản lần đầu tại Sài Gòn năm 1969).với tựa : Mourning Headband for Hue (Nxb Indiana University Press, 2014. 378 trang).dịch giả: Giáo sư Olgar Dror.





Mourning Headband for Hue: An Account of the Battle for Hue, Vietnam 1968


-VIEW :Mourning Headband for Hue.pdf : An Account of the Battle for Hue, Vietnam 1968


image

-Việt Cộng thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế 1968:chết hoặc mất tích là 6.700 người.



-VIDEO :Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế_ "Tet Offensive Massacre in Huế"



-VIDEO :Loi keu goi cua Trinh Cong Son tren dai phat thanh Sai Gon ngay 30.04.1975

Nguyen Huu Thai DVM
Hình ảnh trưa ngày 30/4 năm 1975 tại đài phát thanh Sài Gòn, Nguyễn Hữu Thái cầm hồ sơ màu trắng, Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng, sau đó Trịnh Công Sơn nói lời kêu gọi chào mừng quân giải phóng và hát bài Nối Vòng Tay Lớn…
TCS NHT
Trịnh Công Sơn và tên sát nhân đặc công Nguyễn Hữu Thái (đeo kính), một trong ba kẻ giết GS Nguyễn Văn Bông


TCS HPNT
Trịnh Công Sơn (trái) và tên sát nhân Hoàng Phủ Ngọc Tường (phải) tiếp tục thân thiết sau 1975. GS Bửu Ý ngồi cạnh TCS, tiếp theo là Nguyễn Trọng Tạo



-Mời xem :ballCỘNG SẢN NẰM VÙNG Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn – (Liên Thành)



-Mời xem:TRỊNH CÔNG SƠN, NGƯỜI BẠN, KẺ ĐỐI NGHỊCH_kim thanh_nguyễn kim quý.


Tượng đài Kinh Thựong Đoàn Kết tại ngã tư trứơc Toà Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng:







Bao Loc 1969 - photo by Ron Sanders 

tượng "Kinh Thượng đoàn kết" tại vòng xoay trung tâm Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng



co vnch photo: co vang 3 soc do VNCH 7wz33x1.gif






Tượng đài Kinh Thựong Đoàn Kết tại ngã tư trứơc Toà Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng_
Hiện nay không còn nữa,Việt Cộng đã phá hủy.



Định Quán Aerial - Long Khánh 1969-70 - Photo by Bill DeVoe




Định Quán Maket - Long Khánh 1969-70 - Photo by Bill DeVoe




Định Quán 1970  trên quốc lộ 20 Saigon - Bảo Lộc


Định Quán 1970



La Ngà Bridge - 1970


Ngã ba Dầu Giây đi Đà Lạt QL 20 và QL1/ Xuân Lộc


-VIDEO :Tổng hợp một số nhà thờ ở Bảo Lộc_2016

- Giáo xứ Bảo Lộc :

Năm 1958, Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng cũ, một vùng rộng lớn của tỉnh Đồng Nai Thượng ngày xưa, bao gồm cả huyện Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên và huyện Bảo Lâm mới được tách ra và thành lập sau này. Vùng Bảo Lộc xưa là nơi sinh sống chủ yếu của người Mạ.
Bảo Lộc đã được người Pháp đặt vấn đề khai thác khá sớm cùng một lúc với việc xây dựng đô thị Đà Lạt.
Năm 1899, một phái đoàn người Pháp do ông Ernest Outrey chỉ huy mở một cuộc thám hiểm tìm hiểu khả năng vùng Đồng Nai Thượng và vạch một con đường nối liền vùng này với Bình Thuận.
Ngày 1-11-1899, Toàn quyền Paul Doumer ký Quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, đặt tỉnh lỵ tại Djiring. Năm 1905, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, sáp nhập vào tỉnh Bình Thuận.
Năm 1920, tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập, gồm có 3 quận: BLao (Bảo Lộc), Djiring (Di Linh) và Dran - Fyan (Đơn Dương).
Ngày 19-5-1958, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng là Lâm Đồng và sau đó tách quận Dran ra khỏi tỉnh Lâm Đồng, sáp nhập vào tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn lại 2 quận: Bảo Lộc và Di Linh.
Ngày 30-11-1958, Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng và công việc kiến thiết mở mang đô thị mới cũng bắt đầu phát triển mạnh từ thời gian này.

Lược sử Giáo xứ Bảo Lộc



Nhà thờ Bảo Lộc , nằm trên quốc lộ 20, giữa thị trấn, nhà thờ Bảo Lộc được xây dựng từ năm 1994, khánh thành năm 1999, theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, với một ít sửa đổi do kiến trúc sư Nguyễn Hồng Sơn. Qua đồ án, ông Ngô Viết Thụ "diễn tả nguyên tắc dùng hài hoà khối bằng kim số" một cách tinh vi và khoa học. Tuy mang dáng dấp kiến trúc Tây Phương, nhưng nhà thờ lại có những nét dân tộc độc đáo. Phía ngoài hình vuông tượng trưng cho đất. Phía trong hình tròn tượng trưng cho trời, được chống đỡ bởi 12 cây cột biểu hiệu cho 12 tông đồ gánh vác Giáo Hội. Nhà thờ có sức chứa 3 - 4000 người.

Sự hình thành Giáo Xứ Bảo Lộc gắn liền với sự hình thành vùng Blao, nên cũng có một lịch sử lâu đời và trải qua nhiều thay đổi.
Vào đầu thế kỷ 20, vùng Blao (được đổi lại là Bảo Lộc từ năm 1960) còn là rừng rú hoang dã, chỉ có dăm ba làng người dân tộc (như Công Hinh, Ðạ Bình, Công Hinh Ðăng, Công Hinh Ðà, Công Hinh Conteh, Công Hinh Blach, Công Hinh Blao) sinh sống rải rác.

Mãi đến năm 1930 người Pháp mới đến đây lập Trung tâm thực nghiêm Canh Nông. Rồi vài người Pháp khác đến mở đồn điền Cà Phê, vài ba trại công nhân (đa số là người dân tộc, chỉ có ít người kinh) được thành lập để mở quốc lộ.
Lúc ban sơ có một gia đình Công Giáo đầu tiên từ Phan Thiết theo đường mòn hiểm trở, đem thực phẩm Duyên Hải lên bán cho công nhân và sau ở lại hẳn trở thành gia đình người kinh đầu tiên định cư ở vùng này, đó là gia đình bà Tham Toản. Ít lâu sau, bà rủ thêm ông Giáo Cầm (tức là ông Ðồng Văn Giáp, cựu tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, sau làm rể gia đình bà). Ông sẽ là thầy giáo và là chánh trương đầu tiên rất nhiệt thành trong việc dạy trẻ và dạy tân tòng cho đến năm 1981.

Năm 1934-1935, khánh thành quốc lộ, việc đi lại dễ dàng hơn: ban đầu 6 gia đình người kinh (3 gia đình là Công Giáo) kế đó thêm nhiều gia đình khác ồ ạt tới lập nghiệp. Thời gian này, cha xứ Jean Cassaigne và cha phó Nguyễn Vĩnh Tiên của họ Di Linh thỉnh thoảng xuống dâng lễ và chuẩn bị lập giáo xứ Blao.

Tháng 06-1936 nhà thờ Ðức Bà Công Hinh, Bổn mạng là Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, bắt đầu được kiến thiết, với kinh phí do Mẹ Bề Trên Oiseaux Dalat đài thọ, và khánh thành ngày 15-08-1936, cả họ có 42 giáo dân, mỗi tháng có lễ một lần do hai cha từ Di Linh thay đổi nhau xuống làm.

Năm 1938 cha Jean Cassaigne mở trường sơ cấp đầu tiên gồm 4 lớp cho 40 em cả giáo lẫn lương: Một mình ông giáo Cầm ngày dạy chữ, đêm dạy tân tòng.



Nhà thờ Blao năm 1940.Source:http://thnlscantho-5.page.tl/Chuy%26%237879%3Bn-Blao-_-B%E0i-5.htm.

Năm 1940, thêm 70 gia đình công giáo và 30 gia đình lương được mộ từ Bắc vào làm công nhân. Cha Jean Cassaigne làm một nhà thờ thứ hai lớn hơn, mái ngói vách gỗ, và dùng nhà thờ cũ mở thêm 3 lớp học nữa. Thời gian này cha Jean Chauvel Thừa, phó xứ Di Linh lên xuống coi sóc họ đạo.

Năm 1941, cha Bùi Hữu Năng về làm cha xứ tiên khởi và ở luôn tại giáo xứ. Công Hinh Blao thành giáo xứ với 500 giáo dân, với ban chức việc đầu tiên do ông Giáo Cầm đứng đầu, với sự trợ giúp của hai nữ tu Mến Thánh Giá Thủ Thiêm.
Năm 1945, vì loạn lạc hầu hết lương giáo băng rừng chạy về Phan Thiết, đến năm 1946 mới hồi cư.

Tháng giêng năm 1946 cha Năng đổi xứ, Cha Phêrô Phan Văn Thời về thay thế nhưng chỉ sau hơn hai tháng lại từ nhiệm.

Tháng 05 năm 1948, cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu (nay là Giám Mục Vĩnh Long) về nhận xứ, đến 08-12-1949 đổi về Ðơn Dương. Cùng ngày đó Cha Phaolô Nguyễn Văn Ðậu đến thay thế và giáo xứ với số dân 750 người bắt đầu một giai đoạn mới:


Giáo xứ khởi công xây nhà xứ
Nhà thờ sắm quả chuông cung "đô" đầu tiên, đúng Giáng Sinh 1950 tiếng chuông ngân vang khắp vùng.
-Giáng Sinh 1957 khánh thành nhà thờ thứ ba dài 41m, rộng 14m, tháp cao 18m sau hơn ba năm xây dựng.

-Nhà Thờ Cũ_ (xây dựng, năm 1957)

-Tượng Ðức Mẹ Trong Hang Lộ Ðức Tại Giáo Xứ Bảo Lộc


Tượng Ðức Mẹ Trong Hang Lộ Ðức Tại Giáo Xứ Bảo Lộc.
 - Photo by J. Westenskow

Từ 1955 số giáo dân tăng nhanh, giáo xứ tách dần một số giáo khu thành những xứ mới: Thánh Tâm Lộc Tiến (1956), Trung Tâm truyền giáo Thượng (1968), Thiện Lộc (1973), Phúc Lộc (1971), Nam Phương (1970), Chân Lộc (1973).

Cha Phaolô Ðậu đã là cha xứ lâu nhất của giáo xứ so với các cha trước.


Cha Phaolô NGUYỄN VĂN ĐẬU_Bao Loc 1964




Cha Phaolô NGUYỄN VĂN ĐẬU (1912 – 2001)


-VIEW :Chân dung linh mục Việt nam: Linh mục Phaolô Nguyễn Văn Đậu và linh mục Giuse Phùng Thanh Quang

Sau những năm đầu một mình cực nhọc vì một xứ đạo lớn mạnh nhanh chóng, vào cuối năm 1964, cha đã có cha phó đầu tiên là cha Augustinô Vũ Ngọc Quyền thụ phong ngày 20-12-1964; rồi đến năm 1971, khi cha Quyền đổi xứ, lại đến cha Antôn Nguyễn Ðình Uyển về thay thế, để phụ lực với cha cho đến ngày cha rời giáo xứ (29-03-1975).

Sau khi cha đi, ngày 09-04-1975, cha Giuse Vương Văn Ðiền về tạm coi xứ và sau 3 tháng được chính thức đặt làm quản xứ. Cha Antôn Uyển tiếp tục chức vụ phó xứ và tháng 08-1975 thêm Cha Nguyễn Công Linh cũng được bổ nhiệm làm phó xứ. Năm 1985, giáo xứ Bảo Lộc gồm trên dưới 4000 giáo dân và có 7 giáo khu, là một trong những giáo xứ đứng đầu giáo phận về số nhân danh.

Năm 1990, cha Antôn Uyển được cử phụ trách giáo xứ Nam Phương, trong khi vẫn phục vụ giáo xứ Bảo Lộc trong chức năng phó xứ. Năm 1991, cha Phêrô Linh được bổ nhiệm về làm phó xứ Tân Hà, và Cha Gioan Bosco Trần Văn Ðiện được bổ nhiệm về giáo xứ Bảo Lộc làm phó xứ.

Vì là giáo xứ có đông đảo tín hữu và là cái nôi sinh hoạt về Phụng vụ của cả giáo hạt, ngôi nhà thờ cũ đã trở thành quá bé nhỏ và chật chội. Cha Vương Văn Ðiền đã phác họa và khởi công xây dựng một ngôi nhà thờ mới có tầm vóc qui mô với mục đích qui tụ toàn Dân Chúa trong mọi sinh hoạt Phụng Vụ chung trong giáo hạt.
Ðầu năm 1995, chương trình xây dựng ngôi Thánh đường mới đã được khởi công, nhưng công trình mời vừa được thực hiện thì Ngài lâm trọng bệnh và qua đời tháng 02 năm 1996.
Tháng 04 năm 1996, Ðức Giám Mục Giáo Phận đã cử cha Giuse Nguyễn Hữu Duyên về làm quản xứ và tiếp tục công trình xây dựng này. Là một linh mục năng động và có tài quản trị, trong 4 năm, Ngài đã đưa công trình xây dựng ngôi thánh đường vĩ đại với sức chứa gần 4000 người đến giai đoạn chót. Tuy nhiên, giáo xứ Bảo Lộc vẫn rất cần sự tiếp tay của cộng đồng Dân Chúa khắp năm châu để hoàn tất giai đoạn chót này.





.........Một cuộc rước kiệu, tại Giáo Xứ Tân Thanh, năm 1956......

Ảnh: Do Thư Viện Giáo Xứ Tân Thanh cung cấp.
Trích đăng: Công Giáo Bảo Lộc.






Hình ảnh nhà thờ Giáo xứ Bảo Lộc

Credit of QuangDuc20

















-Nhà Thờ Cũ ( xây dựng, năm 1957):










-Nhà thờ Bảo Lộc mới (khánh thành năm 1999) :




-Năm 1993, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã thiết kế đồ án ban đầu để xây dựng nhà thờ Bảo Lộc là: phần nhà thờ có diện tích 60mx 60m= 360 m2, không kể công trình phụ là tháp chuông bên cạnh. Nếu thực hiện đúng thiết kế thì nhà thờ Bảo Lộc sẽ là nhà thờ lớn nhấtViệt Nam và Đông Nam Á. Nhưng khi mới chỉ thực hiện được 1 phần 20 của công trình thì linh mục Vương Văn Điền chánh xứ nhà thờ, người phụ trách quản lý trông coi việc xây dựng nhà thờ qua đời. Việc xây dựng nhà thờ do đó bị bỏ dở dang, công việc xây cất đã bị ngưng lại một năm
Năm 1995, chương trình xây dựng ngôi Thánh đường mới đã được khởi công, nhưng công trình mời vừa được thực hiện thì linh mục Vương Văn Ðiền bị bệnh và qua đời tháng 02 năm 1996.
Tháng 04 năm 1996, linh mục Giuse Nguyễn Hữu Duyên được bổ nhiệm làm quản xứ mới, đã tiếp tục công việc đang dang dở. Nhờ nỗ lực của linh mục quản xứ mới và sự cộng tác giáo dân trong và ngoài giáo phậnngôi thánh đường mới đã hoàn thành được những phần cơ bản và được đưa vào sử dụng để chuẩn bị đón mừng cho Năm Thánh 2000. Do khó khăn về tài chánh, nhà thờ đã được thu nhỏ lại, chỉ bằng 1/2 diện tích so với đồ án nguyên thủy.

-Ngày 31 tháng 05 năm 1999, giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đã chủ sự thánh Lễ khánh thành và cung hiến nhà thờ Bảo Lộc[


Nhà thờ Bảo Lộc là một trong những nhà thờ của giáo hội Công giáo Việt Nam. Đây được coi là nhà thờ có sức chứa lớn nhất ở Việt Nam, với khả năng chứa khoảng 3000 giáo dân và là nhà thờ có hình "Bánh chưng bánh giầy” duy nhất ở Việt Nam. Đây cũng là nhà thờ Công giáo có những công trình kiến trúc độc đáo, thu hút nhiều du khách tham quan tại Bảo LộcLâm Đồng.


Nhà thờ Bảo Lộc được xây dựng từ năm 1994, khánh thành năm 1999, theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (Khôi nguyên La Mã - Prix de Rome), với sự tham gia thực hiện đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Hồng Sơn. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử kiến trúc Việt Nam, thì nhà thờ Bảo Lộc là công trình cuối cùng của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (tác giả của đồ án thiết kế dinh Độc Lập - tức dinh Thống Nhất

Ý nghĩa công trình

Qua đồ án, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ "diễn tả nguyên tắc dùng hài hoà khối bằng kim số" một cách tinh vi và khoa học. Tuy mang dáng dấp kiến trúc Tây Phương, nhưng nhà thờ lại có những nét dân tộc độc đáo. Phía ngoài hình vuông tượng trưng cho đất. Phía trong hình tròn tượng trưng cho trời, được chống đỡ bởi 12 cây cột biểu hiệu cho 12 tông đồ của Giáo hội Công giáo.
Kiến trúc nhà thờ là sự phối hợp rất rõ giữa hai khối mỹ thuật VUÔNG (hình chiếc bánh chưng) và TRÒN (hình chiếc bánh giầy), tượng trưng cho "Trời tròn đất vuông”. Điều này gợi cho các tín hữu cũng như du khách đến nhà thờ nghĩ đến truyền thống văn hóa và lịch sử Việt Nam qua sự tích "Bánh chưng bánh giầy” thời các vua Hùng.
Phần trần nhà thờ là một mái vòm tròn đường kính 36m, được chia thành 12 cánh ôm lấy vòng trung tâm (đường kính 6m). Trần nhà thờ được làm bằng chất liệu thạch cao với những nét khắc tinh tế, đây cũng là điểm nhấn của công trình này. Trong nhà thờ có bộ tranh kính màu có diện tích 66m2 gồm 33 bức, đây cũng là bộ tranh kính màu lớn nhất trong các nhà thờ của Việt Nam



Nhà thờ Giáo xứ Bảo Lộc


Giáo hạt Bảo Lộc






Nhà thờ Giáo xứ Chân Lộc


Giáo hạt Bảo Lộc








-Chùa Phứơc Huệ_Bảo Lộc :









-Chùa Phước Huệ Bảo Lộc_Photo Sphere - Mar 2015:






-VIDEO : Chùa Phước Huệ Thành Phố Bảo Lộc - Lâm Đồng_ngày 22 -02-2013.














TranThienThanh.jpg
Ảnh chụp năm 1964


Sơ lược tiểu sử:



- Trần Thiện Thanh (12 tháng 6 năm 1942 – 13 tháng 5 năm 2005) là một nhạc sĩ Việt Nam chuyên viết về nhạc trữ tình. Bút hiệu ông thường dùng là TTT nhưng thỉnh thoảng ông cũng ký tên Anh Chương (tên con trai ông), Trần Thiện Thanh Toàn (em trai ông, đã tử trận). Ông còn là ca sĩ nổi tiếng với nghệ danh Nhật Trường. Ông là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất giai đoạn trước 1975. Ông được xem như là một trong bốn giọng nam nổi tiếng nhất của nhạc vàng ("tứ trụ nhạc vàng"), ba người còn lại là: Hùng Cường, Duy Khánh, Chế Linh.




Trần Thiện Thanh sinh năm 1942 tại Phan Thiết. Ông đến Sài Gòn năm 1958 và chẳng bao lâu giọng hát trau chuốt của ông được giới yêu nhạc Sài Gòn yêu mến.

Trần Thiện Thanh nguyên là giáo viên trung học, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan năm 1965, phục vụ tại Cục Tâm lý chiến Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1965 cho đến cuối tháng tư năm 1975. Ông làm việc tại Ðài Phát thanh và sau đó Truyền hình Quân Ðội, từng là Trưởng ban văn nghệ của Đài và sau năm 1968 ông còn phụ trách thêm chương trình phóng sự chiến trường.
Ngoài ra, ông còn điều hành trung tâm phát hành nhạc và thu băng tên là “Tiếng Hát Đôi Mươi”. Đầu thập niên 1960, Nhật Trường lập ban Tứ Ca Nhật Trường gồm 3 nữ ca sĩ: Như Thủy (em gái của ông), Vân Quỳnh và Diễm Chi ("nữ hoàng" của phong trào du ca chuyên hát nhạc Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu, Miên Đức Thắng, Bùi Công Thuấn) hát phụ họa cùng với ông.
Trong những năm cuối thập niên 1960, Hùng Cường, Chế Linh và Nhật Trường thường mặc quân phục lên sân khấu để hát nhạc lính. Ông hoạt động rất nhiều với các đài phát thanh và đài Truyền hình Việt Nam thời đó. Trong các phim kịch với đề tài người lính, Nhật Trường hay ca diễn với Thanh Lan.
Đầu thập niên 1970, ông thực hiện một số nhạc cảnh về Đại úy Nguyễn Văn Đương trong đó ông đóng vai người lính còn Thanh Lan đóng vai người vợ hậu phương Nguyễn Thị Lệ. Lúc đó, Nhật Trường và Thanh Lan thường hát chung với nhau. Đây là một tiết mục thu hút nhiều khán giả xem TV thời kì đó và loạt nhạc cảnh này cũng được thu thành phim với tên Trên Đỉnh Mùa Đông.
Hai chủ đề lớn trong sáng tác của ông là tình yêu và tình lính. Ông sáng tác nhiều nhạc về lính, nhưng nhạc lính của ông thường không có thù hận, gay gắt hoặc kích động, thúc quân hoặc u uất, bi thảm mà nhạc của ông thường trong sáng vui tươi làm thi vị hóa và lãng mạn hóa đời lính gian khổ.




Sau 1975, ông nằm trong danh sách những nghệ sĩ bị Nhà nước CHXHCN Việt Nam cấm hoạt động. Tới năm 1984, Trần Thiện Thanh được phép hoạt động lại. Trần Thiện Thanh từ chối làm việc dưới chế độ mới mặc dù trong những năm ít xuất hiện trên sân khấu, ông vẫn soạn nhạc.

Năm 1993, ông di cư sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình, ODP. Sau một thời gian sống tại Mỹ thì ông kết duyên với nữ ca sĩ Mỹ Lan.
Trần Thiện Thanh qua đời vào ngày 13 tháng 5 năm 2005 tại nhà riêng ở thành phố Westminster, Quận Cam do bệnh ung thư phổi.
Trần Thiện Thanh sáng tác khoảng 200 ca khúc.

-Song thân của Trần Thiện Thanh cư ngụ tại Bảo Lộc -Thân phụ là Trần Thiện Hải,Trửơng Ty Kinh xã Tinh Lâm Đồng trứơc 1975.-Sau 1975,Ông Trần Thiện Hải bị Việt Cộng giam giữ tại Trại Đại Bình Bảo Lộc và chết tại đây.












-VIDEO :
đám tang của nhạc sỹ Trần Thiện Thanh_
Những ngày cuối đời và hình ảnh tro cốt đám tang của nhạc sỹ Trần Thiện Thanh ở chùa Phước Huệ, Thị Xã Bảo Lộc.

-Hiện Tro cốt Trần Thiện Thanh đựơc lưu giữ tại Chùa Phứơc Huệ Bảo Lộc.



-VIDEO :Trên Đỉnh Mùa Đông - Nhóm Tiếng Hát Đôi Mươi thực hiệnTrenDinhMuaDong.png
Thanh Lan và Trần Thiện Thanh trong phim Trên đỉnh mùa đông




-VIDEO :Phim kịch Trên đỉnh mùa Đông_




- Thanh Lan & Nhật Trường




- Ca sĩ  Như Loan :





Như Loan
Birth nameLoanne Le
BornApril 20, 1981 (age 34)
Bảo LộcLâm Đồng Province,Vietnam
GenresPop
Như Loan sinh ngày 20 tháng 04 năm 1981 tại bảo lộc, Lâm Dồng là một ca sĩ Việt Nam hiện đang ký hợp đồng với trung tâm băng nhạc Thúy Nga, một trong những nhà hát lớn nhất ở Mỹ. Hiện tại,Như Loan đang làm việc cho Paris by Night và cô cũng là một người mẫu chuyên nghiệp.

Như Loan đến Mỹ năm 1992 khi cô vừa tròn 11 tuổi rưỡi. Cô giờ đang sống chung với gia đình. Như Loan nói rằng mình là cô bé nhỏ trong gia đình. Bên cạnh đi hát, cô đang học Luật ở trường California State University,Fullerton. Cô xuất hiện đầu tiên khoảng Thúy Nga 62.

Như Loan phát hành CD solo đầu tiên của cô trong năm 2006 mang tên "Tình Lặng Câm", cũng như đĩa CD song ca có tiêu đề "Sunday buồn" với ca sĩ Bảo Hân, và CD một nhóm có tiêu đề "Mong Anh Sẽ Đến" với ca sĩ Bảo Hân, Loan Châu, và Tú Quyên. Cô cũng đã được xuất hiện tại Paris by Night từ cuốn số 56: Thời trang và âm nhạc. Như Loan hiện đã phát hành đĩa CD solo thứ hai vào giữa năm 2008, cũng như các sản phẩm khác trong tương lai gần.

- Như Loan trải lòng khi về lần đầu về Việt Nam biểu diễn :
Hơn 10 năm nay, Như Loan được xem là một trong những nữ ca sĩ ăn khách nhất của Trung tâm Thúy Nga Paris. Như Loan từng về nước chơi nhiều lần nhưng chưa bao giờ biểu diễn. Sắp tới, cô sẽ về Việt Nam tham gia một đêm nhạc đặc biệt cùng đông đảo nghệ sĩ khác. Đây là lần đầu tiên Như Loan hát trên quê hương nên cô rất hồi hộp. Những ngày này cô đã bắt tay tập luyện và chuẩn bị kỹ lưỡng để có những tiết mục hay nhất gửi đến người hâm mộ trong nước.
1-6859-1409020530.jpg
Ca sĩ hải ngoại Như Loan.
Như Loan sinh năm 1981, sang Mỹ định cư từ năm 11 tuổi. Nữ ca sĩ kể, khi mới qua đó, cô rất khó hòa nhập với cuộc sống xứ người vì bất đồng ngôn ngữ. Cô đã nỗ lực hết sức để học tiếng Anh và bắt đầu những mối quan hệ mới. Bố mẹ Như Loan sinh đến 6 người con nên gia đình cô khá khó khăn về kinh tế. Cả nhà phải chia nhau đi làm, mỗi người một việc để tự trang trải. Nhờ vậy, Như Loan đã học được tính tự lập từ nhỏ, không sống dựa vào ai mà lúc nào cũng phải tự lao động để kiếm tiền. 
Sang Mỹ một thời gian, Như Loan tìm đến Trung tâm ca nhạc Thúy Nga để thử sức. Khoảng thời gian đầu người thân ra sức ngăn cản vì nghĩ cô khó trụ lại được ở thị trường âm nhạc hải ngoại. Tuy nhiên, trước quyết tâm cao độ của con gái, bố mẹ đồng ý để cô thử thách mình. Điều may mắn nhất với Như Loan là chỉ sau thời gian ngắn cô đã gây ấn tượng với khán giả và trở thành một trong những giọng ca được yêu thích của trung tâm này. "Bây giờ, gia đình là 'fan cuồng' của tôi", Như Loan hạnh phúc chia sẻ. 
Những lúc rảnh rỗi, Như Loan thường nghe nhạc của các đàn chị như Khánh Hà, Lưu Bích để học hỏi thêm về kỹ thuật và cách thể hiện. Còn trong dàn ca sĩ trẻ, Như Loan yêu thích Hồ Ngọc Hà, vì cô thấy được ở giọng ca Xin hãy thứ tha sự quyết tâm và nghiêm túc với nghề. 
Với vẻ bề ngoài sexy, Như Loan được nhiều đàn ông chú ý, nhưng cô không đặt ra tiêu chuẩn nào cho "một nửa" của mình. "Nếu anh ấy đẹp trai một chút cũng tốt, còn nếu không đẹp thì tính tình phải hài hước và thông minh. Địa vị, tiền bạc thì tôi thấy không quan trọng lắm, miễn anh ấy tốt và lo lắng được cho tôi", ca sĩ bày tỏ.




-Bảo Lộc - Nơi dừng chân của những tâm hồn đồng điệu :
19:11 02/05/2015
Khám phá Bảo Lộc mùa này, bạn sẽ được ngắm những đồi chè bát ngát, những thác nước hùng vĩ cũng như khung cảnh thiên nhiên chìm trong màn sương mờ ảo.
1. Thác Dambri: Từ thị xã Bảo Lộc đi hơn 18km, qua những đồi chè, cà phê, cây ăn trái xanh ngát… du khách đến với khu du lịch sinh thái Dambri để được thưởng thức cảnh đẹp hùng vĩ cùng khí hậu mát mẻ của rừng nguyên sinh Nam Tây Nguyên. Dambri là một thác nước đẹp, cao nhất vùng Lâm Đồng. Nguồn nước của dòng thác từ trên cao hơn 90 m đổ xuống, tạo nên một khung cảnh rất hùng vĩ. Mùa mưa, nước thượng nguồn đổ về ầm ầm, đi xa vài km còn nghe thấy tiếng nước chảy. Ảnh: Zeepee.
1. Thác Dambri: Từ thị xã Bảo Lộc đi hơn 18 km, qua những đồi chè, cà phê, cây ăn trái xanh ngát… du khách đến với khu du lịch sinh thái Dambri để được thưởng thức cảnh đẹp cùng khí hậu mát mẻ của rừng nguyên sinh Nam Tây Nguyên. Dambri là một thác nước đẹp, cao nhất vùng Lâm Đồng. Nguồn nước của dòng thác từ trên cao hơn 90 m đổ xuống, tạo nên một khung cảnh rất hùng vĩ. Mùa mưa, nước thượng nguồn đổ về ầm ầm, đi xa vài km còn nghe thấy tiếng nước chảy. Ảnh: Zeepee.
Xung quanh thác là một khu rừng hầu như vẫn còn giữ được nguyên vẹn nét đẹp hoang sơ chưa mấy người khám phá, diện tích gần 300ha với đủ loài chim. Nhiều cây cổ thụ quý hiếm như sao, kền kền, dổi… gốc to tầm vài ba vòng tay người ôm cũng có mặt tại khu rừng này. Ảnh: Zeepee.
Xung quanh thác là một khu rừng hầu như vẫn còn giữ được nguyên vẹn nét đẹp hoang sơ chưa mấy người khám phá, diện tích gần 300 ha với đủ loài chim. Nhiều cây cổ thụ quý hiếm như sao, kền kền, dổi… gốc to tầm vài ba vòng tay người ôm cũng có mặt tại khu rừng này. Ảnh: Zeepee.
2. Chùa Di Đà: Chùa do một vị tu sĩ của tu viện Bát Nhã lập ra bởi người muốn
2. Chùa Di Đà: Chùa do một vị tu sĩ của tu viện Bát Nhã lập ra bởi người muốn xa lánh cõi trần sau nhiều biến cố của tu viện. Xưa kia chùa tên là Đăng Đừng do lấy tên buôn Đăng Đừng ở đây, trước cổng chùa có tượng phật A Di Đà rất lớn nên phật tử viếng thăm thường gọi là chùa A Di Đà, lâu dần rồi quen nên giữ tên gọi này để những người đến dâng hương dễ tìm đến. Vừa bước qua cổng chùa là thấy ngay một khung cảnh mát rượi cây xanh, men theo lối vào là hai hàng phong linh bằng tre. Ảnh: Kynhong.
Phong linh được làm hoàn toàn bằng ống tre do chính tay những chú tiểu trong chùa làm. Phong linh được treo khắp mọi nơi trong khuôn viên chùa, nên cho dù bất kỳ chỗ nào ta cũng có thể nghe được tiếng lộc cộc của hàng trăm chiếc phong linh. Một âm thanh đặc trưng mà không một nơi nào có được mang cảm giác bình yên đến lạ kỳ. Ảnh: Kynhong.
Phong linh được làm hoàn toàn bằng ống tre do những chú tiểu trong chùa làm. Phong linh được treo khắp mọi nơi trong khuôn viên chùa, nên cho dù bất kỳ chỗ nào ta cũng có thể nghe được tiếng lộc cộc của hàng trăm chiếc phong linh. Một âm thanh đặc trưng mà không một nơi nào có được mang cảm giác bình yên đến lạ kỳ. Ảnh: Kynhong.
3. Đèo Bảo Lộc:
3. Đèo Bảo Lộc: Đây là con đèo nối Đạ Hoai với Bảo Lộc, cao khoảng 1.500 m so với mực nước biển. Muốn đến phố hoa Đà Lạt, đầu tiên phải đi qua đèo Bảo Lộc (còn gọi là đèo B'Lao theo tiếng K'ho), dài 10 km. Đèo Bảo Lộc là ranh giới giữa địa phận thành phố Bảo Lộc và huyện Đạ Huoai. Ảnh: Huunguyenddk.
Bảo Lộc - Nơi dừng chân của những tâm hồn đồng điệu
Con đèo được xây năm 1973, một thời là nỗi kinh hoàng của cánh xe tải khi đi qua những đoạn dốc sạt lở núi nguy hiểm. Quốc lộ 20 nay đã được xây dựng lại, con đường rộng đi qua nhiều cánh rừng cao su, rừng thông, những đồi chè xanh mướt và những vườn cà phê bạt ngàn trĩu quả. Ảnh: Huunguyenddk.
4. Đèo Triệu Hải: Điểm xuất phát để tới đèo Triệu Hải dễ nhất là từ trung tâm thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Từ đây xuất phát bạn sẽ tới được thác Dambri, qua hồ Tâm Châu rồi đến đập thủy điện Dambri. Nước hồ có màu xanh ngọc bích đẹp mê mẩn được bao trọn bởi những dãy núi xung quanh.  Ảnh: Hải An.
4. Đèo Triệu Hải: Điểm xuất phát để tới đèo Triệu Hải dễ nhất là từ trung tâm thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Từ đây xuất phát bạn sẽ tới được thác Dambri, qua hồ Tâm Châu rồi đến đập thủy điện Dambri. Nước hồ có màu xanh ngọc bích đẹp mê mẩn được bao trọn bởi những dãy núi xung quanh. Ảnh: Hải An.
Màu xanh của nước được suy đoán là do cao lanh và các khoáng chất trong đất đá hòa vào nước hồ dưới tác dụng của ảnh mặt trời. hành trình chinh phục cung đường đèo Triệu Hải thật sự là một trải nghiệm thú vị để bạn học hỏi nhiều kỹ năng như giải quyết khó khăn, xử lý sự cố và hơn cả là tìm ra các giá trị tiềm ẩn trong chính bản thân mình cũng như tận hưởng thành công. Ảnh: Hải An.
Màu xanh của nước được suy đoán là do cao lanh và các khoáng chất trong đất đá hòa vào nước hồ dưới tác dụng của ảnh mặt trời. Hành trình chinh phục cung đường đèo Triệu Hải thật sự là một trải nghiệm thú vị để bạn học hỏi nhiều kỹ năng như giải quyết khó khăn, xử lý sự cố và hơn cả là tìm ra các giá trị tiềm ẩn trong chính bản thân mình cũng như tận hưởng thành công. Ảnh: Hải An.
5. Đèo Tà Pứa: Nằm trên đường tỉnh lộ DT713 nối hai thành phố Bảo Lộc và Long Khánh, đèo Tà Pứa (dân địa phương còn gọi là đèo Tà Pao) tuy chỉ là một con đèo nhỏ nhưng lại có tầm quan sát vô cùng đẹp mắt. Sau khi đổ đèo Bảo Lộc khoảng 10km trên quốc lộ 20, phía bên tay phải bạn sẽ thấy nhà thờ Dambri. Chạy khoảng 100m nữa là đến ngã ba quẹo vào DT713. Từ ngã ba chạy đến đèo Tà Pứa khoảng 17km.
5. Đèo Tà Pứa: Nằm trên đường tỉnh lộ DT713 nối thị trấm Đạm Ri (Đạ Huoai) với Bắc Ruộng (Bình Thuận), đèo Tà Pứa (dân địa phương còn gọi là đèo Tà Pao) tuy chỉ là một con đèo nhỏ nhưng lại có tầm quan sát vô cùng đẹp mắt. Sau khi đổ đèo Bảo Lộc khoảng 10 km trên quốc lộ 20, phía bên tay phải bạn sẽ thấy nhà thờ Dambri, chạy khoảng 100 m nữa là đến ngã ba quẹo vào DT713. Từ ngã ba chạy đến đèo Tà Pứa khoảng 17 km. Ảnh:Tessua Rai.
Đoạn đường này chạy rất thoáng và đẹp, bạn sẽ đi qua một chiếc cầu treo bắt ngang qua suối, buổi chiều dân địa phương thường ra đây tắm suối, đi dạo hay câu cá rất vui. Hai bên đoạn đường này rất vắng vẻ, đa số chỉ có người dân tộc ít người và lâu lâu mới có vài xe lớn đi ngang.
Đoạn đường này chạy rất thoáng và đẹp. Bạn sẽ đi qua một chiếc cầu treo bắt ngang qua suối, buổi chiều dân địa phương thường ra đây tắm suối, đi dạo hay câu cá rất vui. Hai bên đoạn đường này rất vắng vẻ, đa số chỉ có người dân tộc ít người và lâu lâu mới có vài xe lớn đi ngang. Ảnh: Tessua Rai.
6. Rừng Nam Cát Tiên: Vườn quốc gia Cát Tiên là một khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa bàn ba huyện Tân Phú, Vĩnh Cửu (Đồng Nai), Bảo Lộc (Lâm Đồng) và Bù Đăng (Bình Phước), cách Thành phố Hồ Chí Minh 150 km về phía Bắc. Đặc trưng của vườn quốc gia này là rừng đất thấp ẩm ướt nhiệt đới. Khoảng 50% diện tích của Cát Tiên là rừng cây xanh, 40% là rừng tre, 10% là nông trại.  Ảnh: Khampha.
6. Rừng Nam Cát Tiên: Vườn quốc gia Cát Tiên là một khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa bàn ba huyện Tân Phú, Vĩnh Cửu (Đồng Nai), Bảo Lộc (Lâm Đồng) và Bù Đăng (Bình Phước), cách TP HCM 150 km về phía bắc. Đặc trưng của vườn quốc gia này là rừng đất thấp ẩm ướt nhiệt đới. Khoảng 50% diện tích của Cát Tiên là rừng cây xanh, 40% là rừng tre, 10% là nông trại. Ảnh: Khampha.
Động vật đặc trưng có: tê giác Java một sừng, voi châu Á, bò tót, gấu chó, gấu ngựa, trâu rừng, hổ, báo hoa mai, báo gấm, nai... Các loài chim của Cát Tiên cũng phong phú đa dạng: đại bàng đen, vịt trời cánh trắng, chim mỏ sừng lớn... Cát Tiên cũng là nơi cư ngụ của 40 loài nằm trong Sách đỏ thế giới, trong đó đặc biệt là loài tê giác. Ảnh: Khampha.Phóng to
 Chia sẻ
Động vật đặc trưng có tê giác Java một sừng, voi châu Á, bò tót, gấu chó, gấu ngựa, trâu rừng, hổ, báo hoa mai, báo gấm, nai... Các loài chim của Cát Tiên cũng phong phú đa dạng: đại bàng đen, vịt trời cánh trắng, chim mỏ sừng lớn... Cát Tiên cũng là nơi cư ngụ của 40 loài nằm trong Sách đỏ thế giới, trong đó đặc biệt là loài tê giác. Ảnh: Khampha.



"Giáo xứ Tân hà nhìn từ Bầu Trời" sau 62 năm thành lập 12.10.1954 - 12.10.2016_(Drone Cam)

-Giáo xứ Tân Hà tọa lạc ở cây số 185 thuộc quốc lộ 20, giữa hai xứ Tân Bùi và Thánh Tâm (Lộc Tiến)

Nhà Thờ Tân Hà.
Ngày 12-10-1954, một đoàn xe từ Sài Gòn do hai cha DCCT Canada là Patrice Gagné (Lợi) và Francois Laliberté (Thái) đứng đầu, đã chở 12 gia đình công giáo (thuộc địa phận Hà Nội và quen biết với DCCT) lên miền Bảo Lộc. Ðoàn xe dừng lại và nghỉ đêm tại nhà thờ Bảo Lộc, khi được cha xứ Phaolô Nguyễn Văn Ðậu tiếp đón. Hôm sau, đoàn xe quay ngược về cây số 185 trên phần đất thuộc Trung thổ. Sau nhóm đầu tiên này, nhiều đợt người khác, đa số thuộc địa phận Hà Nội, nhưng cũng có những gia đình thuộc Thái Bình, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thanh Hóa. tiếp tục được chở lên, khiến có lúc số nhân danh đạt trên dưới 3000 người.

Thánh Lễ Mừng Ngọc Khánh 60 năm Thành lập Giáo xứTân Hà-Bảo Lộc:





-Giáo xứ Thánh Tâm nằm sát quốc lộ 20 (nối liền Sàigòn-Dalat), một mặt giáp trường Nông Lâm Súc, một mặt giáp xứ Tân Hà.


NHÀ THỜ THÁNH TÂM, BẢO LỘC

Ngày 30-5-2003


Giáo xứ này do cha Phaolô Nguyễn Văn Ðậu sáng lập vào năm 1955. Nguyên do là hồi đó, có một số đồng bào công giáo từ Bắc vào, được máy bay chở đến Blao và tạm cư tại sân banh gần nhà thờ Blao. Cảm thương trước tình cảnh của họ, cha Phaolô Ðậu lúc đó đang là cha xứ Blao đã liên hệ với chính quyền để xin khu đất còn hoang vu ở chỗ cây số 187. Ðước chính quyền chấp thuận, cha đã đưa họ đến phát rừng, chia đất, cất nhà, bắt đầu xây dựng cuộc sống. Cha cũng giúp họ dựng tạm những cơ sở cần thiết đầu tiên của một xứ đạo như: nhà nguyện, trụ sở, trường học. Nhất là để nâng đỡ và giữ vững tinh thần sống đạo của giáo dân, cha đã nhờ cha già Phêrô Hoàng Châu Thưởng mới từ Bắc vào và đang tá túc tại nhà thờ Blao, ngày ngày tới dâng lễ và ban các bí tích.



Mô Hình Nhà Thờ Trong Dự Án Tái Thiết Năm2000





Nhà thờ Giáo xứ Tân Bùi
Giáo hạt Bảo Lộc


Nhà thờ Giáo xứ Tân Thanh
Giáo hạt Bảo Lộc




Nhà thờ Giáo xứ Tân Hóa 
Giáo hạt Bảo Lộc





Tượng đài Đức Mẹ Suối An Bình, Giáo xứ Bảo Lộc, Giáo phận Đà Lạt
Tượng đài Đức Mẹ Suối An Bình, Giáo xứ Bảo Lộc, Giáo phận Đà Lạt
Tượng đài Đức Mẹ Suối An Bình, Giáo xứ Bảo Lộc, Giáo phận Đà Lạt
Tet Nham Thin- (mong 4 Tet)


Đèo B’lao (Bảo Lộc) và Núi Lu Bu

Miếu Ba Cô giữa lưng chừng đèo Bảo Lộc


Miếu Ba Cô_ Đèo B’lao (Bảo Lộc)


Miếu Ba Cô hiện nay.




Ở đây có xây cả 1 tượng Phật Bà Quan Âm nữa.

-VIEW : Sự thật về ba oan hồn trinh nữ (Miếu Ba Cô)




-VIDEO :Wedding In Bao Loc









-VIDEO : Áo dài Bảo Lộc 14-04-2013_Thu cảnh khu Trứơc Toà Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng Cũ.












  • - D I   L I N H

    1. Giới thiệu
    Di Linh là một huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Di Linh, ở độ cao 1000 m so với mặt nước biển. Tên Di Linh bắt nguồn từ Djiring, theo nhiều người, đây là tên của vị chủ làng có công thành lập ra buôn này. Di Linh là vùng đất Bazan màu mỡ, có tổng diện tích tự nhiên hơn 162.000 ha; trong đó, có 47.000 ha đất nông nghiệp. Di Linh có tiểu vùng thời tiết, khí hậu rất thích hợp đối với các loại cây công nghiệp mà đặc biệt là cây cà phê.

    2. Vị trí địa lý
    Diện tích 1614.63 km2.
    a/ Phía đông giáp với huyện Đức Trọng.
    b/ Phía tây gíp huyện Bảo Lâm.
    c/ Phía nam giáp tĩnh Bình Thuận.
    d/ Phía bắc giáp huyện Lâm Hà.

    -Lịch sử :
    • 1 tháng 11 năm 1899, chính quyền Pháp lập tỉnh Đồng Nai Thượng (Province du Haut Donnai), tỉnh lỵ đặt tại Di Linh (Djiring)
    • Năm 1903, bãi bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, chuyển thành đại lý hành chính Di Linh, do đại diện của Công sứ Bình Thuận cai trị
    • Năm 1905: Di Linh được nhập vào Bình Thuận.
    • Năm 1913, nhập đại lý Đà Lạt với đại lý Di Linh, gọi chung là đại lý Di Linh và vẫn thuộc tỉnh Bình Thuận
    • 6 tháng 1 năm 1916: thành lập tỉnh Lâm Viên, gồm đại lý Đà Lạt mới lập lại và đại lý Di Linh, tách từ tỉnh Bình Thuận. Tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh Lâm Viên còn được gọi là Langbiang hay Lâm Biên
    • 31 tháng 10 năm 1920: xóa bỏ tỉnh Lâm Viên, một phần lập ra thành phố Đà Lạt, phần còn lại lập lại tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh. Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng về Đà Lạt
    • 8 tháng 1 năm 1941, lập lại tỉnh Lâm Viên, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng chuyển về Di Linh
    • Tháng 6 năm 1957, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, sau khi đã tách một phần sáp nhập với thành phố Đà Lạt, thành lập tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng gồm 2 quận Bảo Lộc (Blao) và Di Linh. 


    Di Linh - Không Ảnh (1968 - Photo by Bill Robie)





    -VIDEO : Di Linh From Above _Drone Cam (2016):




    -Di Linh from Above (Feb 7, 2016).








    Đập thủy điện nhìn từ trên cao. Ảnh: Phuong Uyen _ Claire on Instagram
    Đập thủy điện nhìn từ trên cao. Ảnh: Phuong Uyen _ Claire on Instagram

    -VIDEO :
    Dự án Chợ Di Linh

    Chợ Di Linh - Lâm Đồng by Ngọc Viên

    Chợ Di Linh - Lâm Đồng     








    -
    Chợ mới Di Linh.
    VIDEO :
    Tổng quan chợ mới Di Linh (2015)


    -Vietnam 1969-70_Photo by Don Fenno.
    -Photos taken along QL20, Bao Loc.
    -Đây là khu nhà rạp hát tại Di Linh,Lâm Đồng

    -Sen hồng trên đất Di Linh_January 8, 2016 :









    -VIDEO :Gặp mặt Đỗ Thị Minh Hạnh tại Di Linh, Lâm Đồng
    Đỗ Thị Minh Hạnh (sinh ngày 13 tháng 03 năm 1985Di Linh, Lâm Đồng) nguyên là sinh viên Cao đẳng Kinh tế, từng tham gia các phong trào công nhân biểu tình và đình công để đòi tăng lương và bảo đảm an toàn lao động. Cô bị bắt vào tháng 2 năm 2010 vì rải truyền đơn kêu gọi công nhân một công ty giày da ở Trà Vinh đình công, và ngày 27 tháng 10 năm 2010 bị kết án 7 năm tù giam, nhưng đã được trả tự do vào ngày 26 tháng 6 năm 2014.
    VIETNAM
    When the struggle for justice is a family tradition
    Do Thi Minh Hanh follows in the footsteps of her parents and grandparents in standing up to oppression.

    Illustration by Brian Williamson
    HER GRANDPARENTS FOUGHT TO FREE VIETNAM from French colonialism. Her father was a fighter pilot who fought to protect South Vietnam from the invading Northern army. Now, she fights for her country’s freedom from an oppressive Communist Party.

    Do Thị Minh Hạnh was 18 and studying economics when she became an advocate for those without a voice in her country. By the time she graduated as an accountant, she had traveled to Hanoi to support the cause of petitioners seeking redress for the loss of expropriated farmland and had been detained and held under house arrest several times.

    Do is a pretty girl with a beautiful singing voice. She was born on March 13, 1985 in the Central Highlands province of Lam Dong, a scenic and mountainous area covered with lush forests and rich farming land.
    Do’s grandmother was awarded the title of “Martyr” as a person who had sacrificed her life for national independence and freedom. Her father was captured by the Vietnamese Communist army and spent two years in prison after the war. Later, her mother testified before the U.S. Congress to ask for help in obtaining the release of her daughter from jail when Do finally landed there in 2010.
    But her family heritage does not explain fully why at age 20 she was already a labor activist.
    Her early work as an accountant was not enough for her energies, and she had soon quit to focus on labor rights, traveling around the country to help workers organize to demand better pay and adequate safety on the job.
    A member of Dan Oan (Victims of Injustice), a petitioners’ movement seeking redress for dispossessed farmers, she also helped to found the United Workers-Farmers Organization (UWFO), an independent—and outlawed—union formed by dissidents in 2006.
    In December 2009, Do went undercover to travel through Cambodia and Thailand to attend a labor conference in Malaysia.
    In 2010, she visited a mine site in the western province of Tay Nguyen, where Vietnam had struck a controversial deal with China for the extraction of bauxite, the raw material for aluminum.
    The deal had been challenged by dissidents and activists as being environmentally risky and as offering excessive concessions to Vietnam’s powerful neighbor China. Do and her companion, fellow activist Nguyen Hoang Quoc Hung, secretly took pictures at the mining site and posted them on the Internet.
    Under the alias Hai Yen, Do then gave several interviews to foreign media accusing the government of cozying up to China and selling out the country. The Vietnamese authorities were paying close attention.

    Do Thi Minh Hanh poses with her father after her release from prison, June 27, 2014. Photo courtesy of Do Thi Minh Hanh
    In February 2010, she was arrested for distributing leaflets and “inciting” the workers of a Mekong delta shoe factory to strike for better pay and improved working conditions.
    Although a negotiated compromise was finally reached between workers and managers, Do and two friends, Nguyen Hoang Quoc Hung and Doan Huy Chuong, were arrested for “disrupting national security” under Article 89 of the Vietnamese Criminal Code.
    In a closed proceeding in October 2010 hearing, the three were neither represented by counsel nor allowed to speak in their own defense. And at age 25, Do was handed a seven-year sentence.
    “I cannot bear the shame the staff makes me undergo on a daily basis,” Do told her mother a few years later when concerns for her health raised alarms in both Europe and the United States.
    She was detained with common criminals, and at times she was shackled and repeatedly beaten by both wardens and other detainees.
    Then, suddenly on June 26, 2014, she was released and went home to her parents.
    In an interview shortly after her release, and still visibly shaken, Do described her experience in detention: “A lot of people were sick. But illness was only a small problem. [My health] is not as important as my spirit. So I was able to overcome whatever happened to me.
    “I’m very happy to be free because I see changes. Our society has begun to move in a more positive direction after my four years, four months and three days in prison.”
    Always the negotiator, she also described trying to bargain with prison authorities, though to no avail. Both Nguyen Hoang Quoc Hung and Doan Huy Chuong are still in jail along with other prisoners of conscience. Upon her release, Do made a point of reminding her supporters of their fate.
    Much has been written about Do on social media and in various Vietnamese publications, and she seems to have captured the imagination of young people who admire her spirit.
    And she, in turn, admires them.
    “I’m very happy to be free because I see changes,” Do says. “Our society has begun to move in a more positive direction after my four years, four months, and three days in prison. [Young people] strengthen my belief in the path that I have chosen.”


    -VIDEO :Mẹ của Đỗ Thị Minh Hạnh Điều Trần Tại Quốc Hội Hoa Kỳ 16.01.2014




    Di Linh




    Lược sử Giáo xứ Di Linh

    Di Linh (phiên âm từ chữ dân tộc Djiring) là một giáo xứ kỳ cựu nhất của giáo phận Dalat. Sự hình thành của nó lên đến thập niên 20, và gắn liền với nỗi bận tâm của Tòa Giám Mục Sài Gòn thời đó là rao giảng Tin Mừng cho đồng bào thiểu số vùng cao nguyên Trung Phần.
    Cha xứ đầu tiên là một linh mục Hội Thừa Sai Paris, 32 tuổi, tên là Jean Cassaigne. Cha nhận nhiệm sở vào ngày thứ hai 24-01-1927. Số giáo dân lúc đó mới chỉ có 5 người, gồm 3 người Việt với ông bếp và chú giúp cha mà thôi. Ðến cuối năm 1928, số giáo dân là 48 người (36 Việt, 12 Pháp) và 4 người Việt dự tòng. Cha đã coi xứ Di Linh trong 15 năm cho đến ngày 1-6-1941, khi về làm Giám Mục Sài Gòn, Cha đã dựng cho Di Linh một ngôi nhà thờ vách ván, và khi ra đi đã nâng số giáo dân lên đến 795 người, gồm 15 Pháp, 484 Việt, 296 Thượng. Cha cũng để lại một di sản xã hội cao quý là một làng cùi chứa 133 người phong với gia đình họ, một kiểu làng xóm riêng biệt thích ứng với tâm lý người bệnh ở địa phương này.
    Sau cha, xứ Di Linh còn được nhiều linh mục kế tục nhau coi sóc và càng ngày càng được xây dựng và hoàn bị về mọi mặt.
    Thay thế cha Cassaigne là cha Emile Grelier coi sóc Di Linh 9 năm, từ 1-12-1941 đến 28-12-1950. Cha đã lập được một sở trà cho giáo xứ, sau này được tặng lại cho trung tâm Thượng Di Linh.
    Cha Francois Rubat Du Mérac coi Di Linh được một năm (1950-1951). Cha có công chuẩn bị vật liệu để xây cất trường học và nhà thờ mới.
    Cha Phaolô Võ Văn Bộ, nguyên phó nhất Nhà Thờ Dalat, phụ trách giáo xứ từ 18-5-1951 đến 1954. Nhờ khéo vận động, trong vòng 3 năm, cha đã hoàn thành ngôi nhà thờ mới tường gạch mái ngói như hiện còn. Ngày thứ sáu, 23-10-1953, Ðức Cha Cassaigne đã lên khánh thành dưới Thánh hiệu là Ðức Mẹ Lên Trời. Cha cũng được giấy phép mở trường sơ cấp cho Giáo xứ từ 7-7-1953 với con số đầu tiên là 2 cô giáo và 30 trò.
    Sau khi cha Bộ được đổi về làm cha xứ Xóm chiếu, Sài Gòn, Cha Jean Moriceau phụ trách Di Linh từ 24-3-1954. Con số giáo dân Việt Nam thời này tăng vọt mau lẹ.
    Trước sự kiện này, ngày 17-2-1955, Tòa Giám Mục Sài Gòn phái cha Phanxicô Nguyễn Văn Tam, nguyên cha xứ An Ðức, Mỹ Tho lên đặc trách đồng bào Kinh tại Di Linh còn cha Moriceau chỉ lo cho đồng bào Dân Tộc.
    Sau 2 năm quản xứ Di Linh, Cha Tam được đổi về làm cha xứ Chí Hòa, Sài Gòn, Cha Luy Phạm Văn Nẫm (nay là Giám Mục phụ tá Thành Phố Hồ Chí Minh), nguyên cha xứ Tân Phước, Gò Công, được cử lên thay thế; nhưng chỉ 5 tháng sau, cha được chọn làm giáo sư Tiểu chủng viện Sài Gòn.
    Ngày 19-9-1957, Cha Phêrô Nguyễn Văn Nghị, nguyên chính xứ Tâm Hưng, Phan Thiết, được đổi lên Di Linh. Nhưng chẳng bao lâu, cha ngã bệnh sốt rét nặng, có vẻ không hợp phong thổ, nên được bổ nhiệm làm quản xứ Bình Hòa, Sài Gòn và cha Giuse Phùng Cảnh, đang giúp cha xứ Tân An, được cử lên thay thế và được đặt làm quản xứ luôn từ 6-6-1958.
    Sau bốn năm rưỡi làm quản xứ và thực hiện nhiều công trình cho giáo xứ, như dựng núi Mẹ Lộ Ðức (21-8-1959), kiến thiết thêm trường học, cha Giuse Cảnh được chọn làm quản lý Tiểu chủng viện Simon Hòa, Dalat và ngày 8-10-1962, cha Giuse Phùng Thanh Quang, nguyên Cha xứ Chánh Tòa Dalat, được bổ nhiệm về thay thế.
    Cha nỗ lực vừa củng cố vừa mở mang giáo xứ như cất nhà nguyện tại họ lẻ Ðồng Lạc, vừa khuếch trương trường học bằng cách nối dài thêm và tăng số các nữ tu dạy học lên 7 dì để đáp ứng với số học sinh lên đến gần 500 em.
    Ngày 4-8-1968, cha Guy De Reynies, thuộc hội Thừa Sai Paris, đến giúp giáo xứ Di Linh. Cha lo tổ chức Foyer de Charité Saint Joseph tại Ðồng Lạc, khánh thành ngày 19-03-1972.
    ........................................







    Hình ảnh nhà thờ Giáo xứ Di Linh
    GIÁO XỨ DI LINH _Di Linh (phiên âm từ chữ dân tộc Djiring) là một giáo xứ kỳ cựu nhất của  giáo phận Dalat.Cha xứ đầu tiên là một linh mục Hội Thừa Sai Paris, 32 tuổi, tên là Jean Cassaigne. Cha nhận nhiệm sở vào ngày thứ hai 24-01-1927.











    t


    Trai Cui Di Linh Lam Dong Viet Nam      Photo by tung.nguyenmn

    Trai Cui Di Linh Viet Nam      Photo by tung.nguyenmn  

    Đức Cha Jean Cassaigne, tông đồ người cùi tại Việt Nam :


    Trại phong Di Linh, Lâm Đồng

    Trại phong Di Linh, Lâm Đồng


    Village des lépreux à Djiring





    Trại phong Di Linh được  Cha Cassaigne (1895-1973) thành lập năm 1929 và dành trọn cuộc đời để phục vụ.
    Đức cha JEAN CASSAIGNE:



    -Đức Cha Cassaigne và hai bệnh nhân phong tại Di Linh.
    -Père J. Cassaigne à Djiring 
    Cha Jean Cassaigne với hai thiếu niên con em bệnh nhân phong tại trại phong Di Linh (Djiring)


    Năm 1938, ba nữ tu người Pháp, Dòng Nữ Tử Bác Ái hay còn gọi là các Soeurs Dòng Vinh Sơn Phaolô, đến để chăm sóc các bệnh nhân cùi và giúp đỡ vị thừa sai đã vất vả 12 năm, không quản ngại sự mệt nhọc và những cơn sốt hành hạ định kỳ. Soeur Marie-Thérèse, Soeur Marie-Claire và Soeur Laurence sẽ trọn đời ở lại phục vụ các bệnh nhân phong cùi. Đối với các con cái thân yêu của Ngài bị bệnh, Đức Cha Cassaigne mong muốn “có những tâm hồn đồng cảm hơn là tâm hồn của một người đàn ông, hầu an ủi những khốn khó lớn lao nầy: những trái tim người mẹ, những trái tim của các nữ tu”. 



    Giám Mục Jean Cassaigne năm 1941



    Paris Foreign Missions Bishop Jean Cassaigne founded Di Linh Leprosarium in 1928 to treat tribal people with leprosy. He had been sent to evangelize ethnic minority groups in the region in 1926, the year after he was ordained a priest. He was made a bishop and put in charge of Saigon (Ho Chi Minh City) apostolic vicariate in 1941, but continued his ministry to people with leprosy as vicar and after his retirement in 1955. The bishop eventually died of the disease in 1973 and was buried at the leprosarium according to his will.



    dc_sanh2


    « Grand Monsieur, je me souviendrai de vous au paradis! »

    La femme qui vient de parler est lépreuse. Elle va mourrir. le missionnaire qui se penche sur elle pour la baptiser, c'est le Père Jean Cassaigne.

    La vie de Jean Cassaigne est l'histoire mouvementée d'un jeune garçon droit et joyeux à qui son père lance un jour: "Tu n'es bon qu'à faire un curé ! "

    Jean ne se le fait pas dire deux fois, tant il désire être prêtre et missionnaire. Après son ordination, il est envoyé au pays des Moïs dans l'actuel Viët-Nam.

    Devenu évêque de Saïgon, il découvre un matin qu'il est atteint lui aussi de la lèpre...





    - April 12, 1972_Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu thăm cha Cassaigne trên giường bệnh:






     - April 12, 1972_Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu thay mặt chính phủ VNCH trao tặng cha Cassaigne huân chương:




    An excerpt from Jean Cassaigne, la lepre et Dieu by Louis & Madeleine Raillon (1993)

    (Jean Cassaigne, The leprosy and God )

    In Saigon, in the beginning of 1972, people learned that Mgr Cassaigne was very sick. Time had gone by. Since seventeen years, the loyalty of this former bishop at the service of the pariahs, the most destitute ever in this world, was felt as an out of the ordinary example.

    The vice-president of the Republic, Mr. Tran Van Huong, took the initiative of conferring the 4th Class of the National Medal of Honor, reserved for military officers, to him. Father Dozance, regional Superior of the Foreign Missions in Saigon, was approached and he went to Di-Linh to see Mgr Cassaigne.

    Very tired, he later objected with an exhausted demeanor:

    - "My greatest wish is to be forgotten, you know damned well, forgotten!
    [...]

    - "Medals!... I cannot even stand up! Haven't you described to them my health condition?
    - "Yes", responded Father Dozance. "They will come to see you, that's all".


    And so, on April 12, 1972, at 9:30 a.m., general Nguyen Van Hieu, assistant to the vice-presidency of the Republic, Lieutenant Colonel, chief of Lam Dong Province, as well as Father Dozance and Father Quang, the pastor of Di-Linh, entered Mgr Cassaigne's room. Mr. Nguyen Thach Van, minister, bent down onto the patient's bed, and proceeded to bestow the medal. With great emotion, Mgr Cassaigne thanked each one who was present. He did not wish to be decorated. People was too good to him. 



    - "I thank Mr. the Vice-President, with the heart of a missionary. In response, I can only pray, pray for Vietnam, that's what I have been doing every day; for Vietnam, where I have been living since 48 years and that I love more and more every day. Vietnam is my country. God so wanted. My dream is about to be accomplished: I have held on, I have suffered here, I am going to die and want to be buried near my children, in the Montagnard Country." 

    [pp 263-264] 




    -VIEW :Catholic Nun Honored For Decades Of Service To People With Leprosy_

    • March 03 2006.

    •  Sister Joseph Mai Thi Mau of the Daughters of Charity of Saint Vincent de Paul(Sister Mau voluntarily joining the leprosarium in 1969 and dedicating her life to serving people with leprosy)
    • Following Bishop Cassaigne´s death, Sister Mau and seven other nuns looked after the leprosy patients. Following Vietnam´s reunification under Communist rule in 1975, the government placed the leprosarium under the administration of the provincial disease center but allowed the nuns to continue to run it.
      The leprosarium, located on 30 hectares, accommodates about 100 patients and 200 of their children. Most of them belong to ethnic minority groups such as the Ede, Jarai, K´Ho, Koyon, Noang, and Nop. A staff member told UCA News the residents earn their living by growing tea and coffee, and also receive a monthly allowance of 150,000 dong (US$10) each from the government.


    Monseigneur Jean Cassaigne(1895-1973)



    Né le 30 janvier 1895 à Grenade- sur-l’Adour (Landes), Jean Cassaigne eut, dès l’adolescence, un vif désir de devenir missionnaire. II fut ordonné prêtre le 19 Décembre 1925 au titre des Missions Etrangères de Paris et reçut son affectation à la Mission de Saïgon.
    Après un stage d’apprentissage du vietnamien, son évêque le chargea de créer un nouveau poste de mission sur les Hauts Plateaux.
    Arrivé à Djiring en janvier 1927 parmi les pauvres montagnards, il leur donna à tout jamais son coeur. II découvrit patiemment leur langue, créa une école, annonça l’Evangile, et bientôt en baptisa quelques-uns. Il donna sa préférence aux plus pauvres, et surtout aux lépreux qu’il soigna de ses mains et regroupa dans un village qui ne cessera de prendre de l’extension.
    Nommé évêque de Saïgon en Février 1941, il dut s’arracher à sa mission de Djiring. Avec fermeté, il défendit l’Eglise de toute compromission et organisa des secours humanitaires.
    En décembre 1954, au jour du 29ième anniversaire de son Ordination, il découvrit sa première tache de lèpre. II continua à faire face à ses devoirs d’évêque, mais le 5 Mars 1955, il demandait la permission de démissionner et de se retirer à Djiring « auprès de mes enfants que j’ai le plus aimés et auxquels, dans son infinie bonté, le Divin Maître me permet de ressembler ».
    Désormais, pendant 18 ans, aidé de religieuses de Saint-Vincent-de-Paul, il redevint leur père, ne cessant de les réconforter et de les évangéliser, oubliant sa souffrance jusqu’à recevoir les confessions au pied de son lit. II disait : « heureux les pauvres en esprit, a dit le Seigneur, car ils posséderont la terre : et j’ajoute : heureux les pauvres en santé, car ils posséderont la joie, c’est si vrai » !
    Au milieu de ses enfants, Jean CASSAIGNE s’est endormi dans le Seigneur le 31 Octobre 1973.
    SIC N° 9 – 2 Septembre 1998

    -Sa vie en vidéo…:

    -VIDEO#1 :Monseigneur Jean Cassaigne # I

    -VIDEO#2 :Monseigneur Jean Cassaigne # II

    -VIDEO#3 :Monseigneur Jean Cassaigne # III

    -VIDEO#4 :Monseigneur Jean Cassaigne # IV

    -Source:http://gs-cassaigne.fr/le-mot-du-chef-detablissement/monseigneur-jean-cassaigne/




    DI LINH (Djiring) 1974


    - Một nữ tu với các bệnh nhân phong trước mộ Giám mục Jean Cassaigne tại trại phong Di Linh


    Indochina 20 Years After. Au Vietnam, en juin 1974, une religieuse en compagnie de personnes lépreuses, devant la tombe de l'évêque Jean CASSAIGNE, dans une léproserie du plateau de Djiring. (Photo by Jack Garofalo/Paris Match via Getty Images)


    -Giáo xứ Phú Hiệp nằm dọc theo quốc lộ 20 Sài Gòn-Dalat, từ cây số 235 đến 239:




    "Ai qua quốc lộ hai mươi,


    Tìm xem Phú Hiệp vui tươi, hữu tình"

    Khi xưa, đây là đồn điền Ourgaud. Vào năm 1955, Ðức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi ủy quyền cho cha Gioan Baotixita Hà Ðức Toán di hai trại tạm cư Phú Lạc và Nam Hiệp ở Dran (nay là Ðơn Dương) là nơi chật hẹp thiếu đất canh tác về đồn điền Ourgaud, mới được Ðức Cha mua lại.
    Người thuộc hai trại tạm cư này đều là người Công Giáo, đa số thuộc giáo phận Bùi Chu, một số ít thuộc các giáo phận Hà Nội, Bắc Ninh, Phát Diệm, Thái Bình. Họ gồm khoảng 350 người.
    Giáo xứ Phú Hiệp ra đời ngày 16-12-1955, danh xưng được kết thành bởi chữ đầu và cuối của hai trại tạm cư PHÚ Lạc và Nam HIỆP.



    http://baomai.blogspot.com/





    -VIDEO :Hoa Anh Đào Đà Lạt_

    Cherry blossom in Dalat


    http://baomai.blogspot.com/


    Sự tích hoa Anh Đào:


    image



    HOA ANH ĐÀO - Biểu tượng Nhật Bản
    Tên tiếng Nhật 
    Sakura
    Tên tiếng Anh :
     Cherry blossom
    Sakura là quốc hoa của Nhật bản. Đặc điểm của nó là rơi trong khi còn đương độ tươi thắm. Hoa anh đào tượng trưng cho tinh thần võ sĩ đạo – samurai – biết chết một cách cao đẹp.
    Nhật Bản có câu : "A flower is a cherry blossom, a person is a Samurai" (Nếu là hoa, xin làm hoa anh đào. Nếu là người, xin làm một võ sĩ đạo) . Điều đó có nghĩa là, khi một võ sĩ đạo đối mặt với hiểm nguy, anh ta không run sợ trước cái chết, bởi vì, giống như hoa anh đào, anh ta sẽ tự đâm mình và gục xuống ngay lập tức, không ngần ngại.