Responsive Navbar with Dropdown

Home About

Responsive Topnav with Dropdown




**~***** Việt Nam Quê Hương Tôi ******  Vietnam My Native Land ****** Vietnam Mon Pays Natal ********* Vietnam **** ******   Việt Nam  *** 



Tuesday, January 13, 2015

💥 Việt Nam trước 1954 ** 🌸** VIETNAM BEFORE 1954 🌼_ Part 2 of 2

 Việt Nam trước 1954  ** 🌸** VIETNAM BEFORE 1954 🌼_ Part 2 of 2




HÀ NỘI 1920-1929 CỔNG VÀO TRỤ SỞ CỦA ĐỘI VỆ BINH BẢN ĐỊA, LỮ ĐOÀN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI.




Nhà hát Lớn Hà Nội.


Ngã tư phố Paul Bert (Tràng Tiền) và đại lộ Henri Rivìere (Ngô Quyền) với nhà hát Lớn ở phía cuối.



Không ảnh Hà Nội, góc chụp lấy nhà hát lớn làm trung tâm ,1952.


Phố Paul Bert (Tràng Tiền).

-Hanoi 1940 – Street scene outside Grands Magasins Reunis department store

Cửa hàng bách hóa Grands Magasins Reunis, ngày nay là Tràng Tiền Plaza.

Rạp Eden (nay là rạp Công Nhân) trên phố Paul Bert.


Rạp Công Nhân 42 Tràng Tiền.


Thủy Tạ-HANOI 1940
Thuy Ta House or "a pavilion over the water", built in 1936, is the only building on the shore of Hoan Kiem Lake. After 1954, it was converted into a restaurant.


HANOI 1940 - Commissariat Central - Angle de la Rue Jules Ferry et de l'Avenue Beauchamps
Đồn cảnh binh Phố Hàng Trống (Bót Hàng Trống) nằm ở góc phố Hàng Trống (phía trên bìa trái) và Lê Thái Tổ (tiền cảnh và bìa phải).



HANOI 1940 – Standard Vacuum Oil Company

    
                                             HANOI 1940 – trạm xăng Texaco    
Trạm xăng của hãng Texaco gần cầu Long Biên.   


                                          Đầu phố Hàng Gai-Hàng Đào-Cầu Gỗ năm 1940        
                              
HANOI 1950 - Street scene with jeep in front of Hanoi police station - Bót Hàng Trống
Photo by Harrison 

PHOTO : Miền Bắc Việt Nam Trước 1954. Tuyen Dinh Collection



Phố Hàng Buồm Hà Nội -1949



hồ 
Photograph of a bridge across Hoàn Kiếm Lake to Ngọc Sơn Temple in Hanoi. Source: Dannaud, J. P., L’Indochine Profonde, 1954.

-People cross The Huc Bridge to Ngoc Son Temple. The bridge collapsed on the night of February 13, 1953. It was rebuilt in early 1954 thanks to donations from local and French citizens. 
-Đông người đi qua cầu Thê Húc để đến đền Ngọc Sơn. Cây cầu này đã bị sập vào đêm ngày 13 tháng 2 năm 1953. Nó được xây dựng lại vào đầu năm 1954 nhờ sự đóng góp của người dân địa phương và người Pháp.

Hoàn Kiếm (Hà Nội) có tới hai chiếc cầu dẫn vào đền Ngọc Sơn. Cây cầu bên trái là cầu Thê Húc, cây cầu bên phải nhỏ hơn, được dựng sơ sài bằng các thân tre.




- Đền Ngọc Sơn trên Hồ Gươm(1900):
Hanoi. Le Petit Lac', (Hanoi. The Small Lake), 1900. The Huc Bridge over Hoan Kiem Lake in Hanoi. From "Autour du Monde - Fascicule VIII". [L. Boulanger, Paris, 1900]. Artist Unknown. (Photo by The Print Collector/Getty Images)


Hà-nôi , Tonkin , Indochine Le temple Ngoc-so' n ( appelé par les Européens «Pagode des Pinceaux» ) , situé sur «l' île de Jade» du Petit Lac_01:07:1915





-VIDEO : 💥 HÀ NỘI Xưa 🌺 1920s 🌼


  • Hocquard, Charles-Edouard, (1853-1911)_ Author. Created / Published, Paris : L. Hachette, 1892.



LÉON BUSY (19 tháng 4 năm 1874, Paris – 1951, Paris) là một nhiếp ảnh gia người Pháp, đã biên tập và đóng góp nhiều bộ sưu tập ảnh về thuộc địa Đông Dương, Angkor và đời sống hàng ngày của Đông Nam Á.


Vues photographiques du Vietnam 3 - Album de Léon Busy (1914-1921)

flickr by Duc Nguyen VSL







-VIDEO : 💥 HÀ NỘI : 🌸 Những thước phim xưa : 1920 ~ 1954 💐



1953__Bộ mặt Bắc Kỳ 1953 💐_ Phim mầu. + Visages du Tonkin 1953




1920_Hanoï - Phố Hàng Đào (La Rue de la Soie) và Chợ Đồng Xuân(Le Grand Marché )


CARTE POSTALE 1920 INDOCHINE COLONIE TONKIN HANOÏ AVENUE DE LA CATHEDRALE



Chùa Một Cột, lúc này chùa nằm chơ vơ giữa cánh đồng và phía ngoài thành Hà Nội, hình chụp năm 1885, phát hành 1888.
---------------------------------
Hanoï, pagode sur piquet au milieu d'un bassin sous les remparts de la citadelle.
[Hà Nội, chùa trên cột giữa ao, nằm dưới chân tường thành của thành cổ.]
-------------------------------
Từ khi lấy Huế làm kinh đô, nhà Nguyễn hạ cấp Thăng Long-Kẻ Chợ xuống thành một tỉnh bình thường, gọi là tỉnh Hà Nội, đồng thời thu hẹp hoàng thành Thăng Long và xây thành Hà Nội với quy mô nhỏ hơn và mang tính phòng thủ, chùa Một Cột vốn nằm trong kinh thành Thăng Long-Kẻ Chợ bỗng nằm rìa thành mới.
----------------------------------
Ảnh do X. Brau de Saint-Pol Lias chụp, page Nét Xưa chuyển màu, có một bức ảnh chụp tương tự được cho là của Hocquard chụp.





HANOI 1896 - Pagode Chua-Mot-cot ou du Lotus

Photo by Firmin André Salles. Hình chụp rõ cho thấy chùa đã quá mục nát rệu rã. Cột trụ lớn thấy rõ là gồm hai phần ghép lại: nửa nằm dưới nước là phần xây, nửa trên là bằng gỗ.





1896 Chùa một cột Hà Nội


Quần thể chùa Một Cột, lúc này chùa nằm chơ vơ giữa cánh đồng và phía ngoài thành Hà Nội, hình chụp năm 1885, phát hành 1888.
---------------------------------
Hanoï, pagode sur piquet au milieu d'un bassin sous les remparts de la citadelle.
[Hà Nội, chùa trên cột giữa ao, nằm dưới chân tường thành của thành cổ.]
-------------------------------
Từ khi lấy Huế làm kinh đô, nhà Nguyễn hạ cấp Thăng Long-Kẻ Chợ xuống thành một tỉnh bình thường, gọi là tỉnh Hà Nội, đồng thời thu hẹp hoàng thành Thăng Long và xây thành Hà Nội với quy mô nhỏ hơn và mang tính phòng thủ, chùa Một Cột vốn nằm trong kinh thành Thăng Long-Kẻ Chợ bỗng nằm rìa thành mới.
----------------------------------
Ảnh do X. Brau de Saint-Pol Lias chụp,

Village de Thanh-bao , environs de Hà-nôi , Tonkin , Indochine Le temple Nhu' t-chu-tu' ou Mot-cot ( « Pagode du pilier unique » )by Léon Busy_01/01/1914 --> 31/12/1915


-Tem về chùa Một Cột (Hà Nội) - là tem Đông Dương, được phát hành năm 1939 :





                                   -  Chùa một cột, hình chụp năm 1938 :




La Pagode Mot Cot. (Photo communiquée par M. Adrien MILLIÈS-LACROIX).
Photo datant de 1935. A cette époque le pilier de la pagode était en pierre. Il avait été initialement construit en teck (1049). Quand les Français quittèrent l'Indochine en 1954, ils détruisirent par dépit ce symbol national. Il a été reconstruit en 1955 par le nouveau gouvernement du Nord Vietnam avec une colonne de béton.
L'insigne du 9ème RIMA représente la pagode Mot Cot laquelle symbolise le Tonkin, garnison de tradition du 9ème RIC, dont le 9èmeRIMA est l'héritier. (Ci-contre : insigne du 9ème  RIC à la fin des  années 1950).


VIETNAM - HANOI - PAGODE A PILIER UNIQUE



Chùa Một Cột do kỹ sư Pháp Leroy Jean Louis thiết kế và chỉ đạo thi công năm 1922 đem đi triển lãm tại Marseille.




  • Phiên bản năm 1922: Đây là mô hình được thực hiện để tham dự Hội chợ Thuộc địa tại Marseille, Pháp.
  • Chùa Một Cột gốc (Liên Hoa Đài): Được xây dựng lần đầu tiên vào mùa Đông tháng 10 năm 1049 dưới thời vua Lý Thái Tông.
  • Lịch sử: Ngôi chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt là sau khi bị phá hủy





  • -VIDEO : Tết Hà Nội những năm 1950 - 1953_Dân Hà Nội vui hửơng Tết thanh bình ,khi  Việt Cộng (Vietnamese Communist) chưa tới ''Giải phóng.


    Hanoi before 1954

    Hanoï dans les années 1940.

    -PHOTO :Foire de Hanoi 1925 & 1928_(Đấu xảo Hà Nội 1925-1928)

    -Scenes Of Indo-China - Hanoi 1931:






    -VIDEO :Rice Harvest In Indo-China (1951)Mùa gặt lúa ở Đông Dương (1951)



    -VIDEO :  🎊 Hà Nội :Tết Tân Mão 1951 🌸 Hanoi 1951 🌼

    Archives cinématographiques du commandant René Combe.





    SƠ LƯỢC LỊCH SỬ THÀNH PHỐ HÀ NỘI. 

    Năm 1837, dân số Hà Nội là 51.877 người - theo thống kê của Nhà Nguyễn trong sách Đại Nam Thực Lực Chính Biên.
    Tháng 4.1882, Hà thành thất thủ lần thứ II.
    Tháng 6.1884, Nhà Nguyễn ký với Pháp Hiệp ước Giáp Thân xác nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, chính thức chấm dứt nền độc lập của phong kiến Việt Nam mặc dù trên danh nghĩa triều đình Nhà Nguyễn vẫn tồn tại.
    Ngày 19.7.1888, Tổng thống Pháp Marie François Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội.
    Ngày 1.10.1888, vua Đồng Khánh ký chỉ dụ cắt toàn bộ huyện Thọ Xương và một phần huyện Vĩnh Thuận của tỉnh Hà Nội làm nhượng địa cho Pháp để Pháp thành lập thành phố Hà Nội.
    Ngày 3.10.1888, Toàn quyền Đông Dương Étienne Antoine Guillaume Richaud chính thức đặt Hà Nội là thành phố theo chế độ nhượng địa.
    Năm 1897, Kts. Auguste Henri Vildieu (1847-1926) trở thành Kiến trúc sư trưởng của Hà Nội. Ông bắt đầu quy hoạch Hà Nội có bài bản bắt đầu từ các công trình công cộng lớn theo kiến trúc Tân Cổ Điển.
    Năm 1902, Pháp đặt Hà Nội làm Thủ đô của Liên bang Đông Dương, thay cho Sài Gòn. Từ đó, Hà Nội trở thành tiểu Paris phương Đông. Hà Nội được các Kts Pháp quy hoạch cẩn thận, bắt đầu có nước máy, có điện, đường nhựa rộng lớn, vỉa hè thênh thang trồng cây xanh. Các công trình kiến trúc tinh hoa mọc lên, lúc đầu là kiến trúc Tân Cổ Điển Pháp vốn gắn liền với thời kỳ Khai Sáng, rồi kiến trúc Thuộc địa Colonial Style hay Indochine Style, kết hợp trở thành bản sắc Hà Nội.
    Từ 1924, Kts Michel Ernest Hébrard (1875-1933) là Giám đốc sở Quy hoạch Kiến trúc Đông Dương nâng cấp quy hoạch Hà Nội hơn nữa, ông quy hoạch khu vực hồ Tây thành không gian xanh giống như vườn rừng Bois de Boulogne - lá phổi của Parái. Tiếc rằng ông mất sớm nên công trình không thực hiện và nay đã bị bê-tông hoá hoàn toàn.
    Từ 1934, Kts. Louis Georges Pineau (1898-1987) là Kiến trúc sư trưởng Hà Nội đã kè Hồ Gươm và quy hoạch hồ Bảy Mẫu, thiết lập vườn hoa và quảng trường Ernest Hébrard ở khu vực Phủ Toàn quyền Đông Dương (khu lăng HCM hiện nay) để kỷ niệm Kiến trúc sư - Nhà quy hoạch thành phố Hà Nội nhiệm kỳ trước là Ernest Hébrard.
    Quảng trường và vườn hoa này nay không còn.
    Năm 1943, Kts. Henri Cerutti-Maori (1899-1972) là Kiến trúc sư trưởng cuối cùng của thủ đô Liên bang Đông Dương. Ông xây thêm Nouvel Hôtel des Postes là toà mới cho Bưu Điện (góc Đinh Lễ ngày nay), xây dựng các khu phố biệt thự vườn; quy hoạch và nắn hệ thống đường nhánh tự phát…
    Điểm tên vài công trình người Pháp quy hoạch kiến thiết ở Hà Nội:
    - Nhà thờ Lớn khánh thành năm 1886.
    - Chợ Đồng Xuân 1889.
    - Jardin botanique 1890 (nay là Vườn Bách Thảo).
    - Trụ sở toà báo L'Avenir du Tonkin - Tương Lai Bắc Kỳ - tờ báo tiếng Pháp đầu tiên ở Hà Nội 1893 (nay là Tòa soạn báo Hà Nội Mới).
    - Tháp nước Hàng Đậu 1894.
    - Bưu điện Bờ Hồ 1890-1896.
    - Trường Dòng Puginier khánh thành 1897 (nay là Trường THPT Việt Đức).
    - Sở Công Chính Immeuble du service des travaux publics 1898 (nay là Uỷ Hội Sông Mekong ở góc phố Hàng Vôi - Lò Sũ).
    - Villa Schneider trong Trường Lycée du Protectorat 1898 (nay là Thư viện Bát giác của trường Chu Văn An).
    - Cercle de l'Union 1898 (nay là Cung Thiếu Nhi 38 Lý Thái Tổ).
    - Cầu Paul Doumer 1899-1902 (nay là cầu Long Biên).
    - Grand Métropole Hotel mở cửa tháng 8.1901.
    - Vườn hoa Chavassieux 1901 (nay là vườn hoa Con Cóc).
    - Maison Godard 1901 trên nền đất cũ là xưởng đúc tiền Gia Long Thông Bảo của triều Nguyễn 1808-1882 tại thôn Tràng Tiền - Bắc Thành (tháng 9.1959 cải tạo thành Bách hóa Tổng hợp].
    - Cung Đấu Xảo Palais d'expositions khai mạc 1902, sau thành Bảo tàng Maurice Long - bảo tàng kinh tế đầu tiên và lớn nhất của Đông Dương. Khi Nhật chiếm Hà Nội, Đồng Minh đã thả bom trúng Cung Đấu Xảo, Cs không đủ sức phục chế.
    - Ga Hàng Cỏ 1902.
    - Dinh Toàn Quyền khởi công tháng 5.1903 (nay là Phủ Chủ Tịch cạnh Lăng HCM).
    - Tòa nhà Bộ Tham Mưu Immeuble de l'état-major 1907 (nay là Bộ Quốc Phòng).
    - Trường Lycée du Protectorat 1908 (nay là Trung học phổ thông chuyên Chu Văn An).
    - Tòa án Tối cao khởi công 1906-1911.
    - Viện Đại học Đông Dương - Trường Y Đông Dương 1906.
    - Nhà hát Lớn khánh thành 1911.
    - Dinh Thống Sứ Bắc Kỳ khởi xây 1917 (nay là Bộ Lao Động).
    - Thư viện Trung ương Đông Dương 1917 (nay là Thư viện Quốc Gia).
    - Trường Grand Lycée và Petit Lycée, sau là Lycee Albert Sarraut 1919 (nay là trường phổ thông Trần Phú - Hoàn Kiếm).
    - Trường Nữ học Pháp 1920 (nay là trụ sở Bộ Tư Pháp).
    - Viện Pasteur Hà Nội 1925.
    - Nhà thờ Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo 1925-1930 (nay là Nhà thờ Cửa Bắc).
    - Sở Tài Chính Đông Dương 1924-1928 (nay là Bộ Ngoại Giao, đối diện lăng HCM).
    - Bảo tàng Louis Finot 1926-1932 sau là École française d'Extrême-Orient Viện Viễn Đông Bác Cổ (nay là Bảo tàng Lịch Sử).
    - Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội "Tràng Thử" 40 phố Nhà Chung 1928 (nay vẫn vẫn là chủng viện sau thời gian dài bị cấm tuyển sinh).
    - Indochina Bank Of France 1928 (nay là Ngân hàng Nhà nước).
    - Bệnh viện Bạch Mai 1930.
    - Nhà trọ Nữ sinh 1930 (nay là Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam).
    - Nhà thờ Hàm Long 1934-1939.
    - …
    Chỉ trong 45 năm được người Pháp kiến thiết toàn diện, tới thập niên 40, Hà Nội đạt đỉnh, rực rỡ tới mức trở thành dấu ấn. Dân số khi đó chỉ có 200.000 người, bao gồm người Âu theo thống kê 1942, và là thủ đô của Liên bang Đông Dương.
    Việc hấp thu Văn hoá - Kiến trúc - Mỹ thuật - Thương mại - Quản trị Pháp đã làm nên phong cách văn minh mang tên “Người Hà Nội thanh lịch”.

    Trước 10.10.1954, dân số Hà Nội vẫn trong khoảng 200.000. Khi Tiếp quản, hàng nghìn bộ đội, cán bộ, công nhân từ các chiến khu vào Hà Nội, rất nhiều trong số đó đưa vợ con cha mẹ ở các vùng quê nghèo vào.
    Ụp một cái, Hà Nội gánh thêm 300.000 ngàn dân tứ xứ nhập cư, phần lớn ít học, lao động phổ thông. Người ngoại quốc dời đi, người Việt giàu và có học thức cao di cư sang Pháp hoặc vào Nam, số lớn giáo dân vào Nam. Số nhỏ dân Hà Nội ở lại, bị tịch thu nhà hoặc buộc phải hiến cho nhà nước, các nhà buôn bị đóng cửa, các doanh nghiệp bị quốc hữu hoá…, kinh tế bị phá tận gốc trở nên kiệt quệ, kiến trúc bị thay đổi công năng, văn hoá suy bại…
    Năm 1960, dân số nội đô tăng hơn gấp đôi, lên 530.000 người, dẫn tới thiếu chỗ ở, sống tạm bợ, chung đụng, nhếch nhác, hỗn tạp, kéo dài từ 1954 tới nay, hơn 70 năm không dứt.

    Quản trị bần nông áp đặt sự thô trược lên quy hoạch Pháp, phá kiến trúc tinh hoa, nén mật độ, vội vã mở rộng nông thôn thành thủ đô để tăng giá đất, dân số lên tới 9 triệu người - không còn cái gì gọi là “Người Hà Nội thanh lịch” nữa.
    Lena Lien Huong






















     



    -MOVIE : Điện Biên Phủ (1992)_ Vietsub 





    -VIDEO : French Surrender at Dien Bien Phu (1954) | A Day That Shook the World


    -VIDEO : L'enfer de Dien Bien Phu - Documentaire complet_

    Địa ngục Điện Biên Phủ - Phim tài liệu.Trận chiến đẫm máu nhất sau Thế chiến II. Điện Biên Phủ là một thung lũng nhỏ gần Lào. Là đồn bốt chiến lược của quân Pháp, cũng ở đó từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 năm 1945 một trận đánh quyết định chấm dứt chiến tranh Đông Dương.
    Khi Tướng de Castries nhận được lệnh từ bộ tổng tham mưu phải đầu hàng.Kiểm kê lúc đó : 1.200 người chết cả hai bên, và nhiều tù nhân chết gần hết khi bị giam cầm. Một trận chiến kéo dài và chết chóc đã chấm dứt sự hiện diện của thực dân Pháp ở Đông Dương.


    -VIDEO : 
    La mémoire et l'oubli _ (1945-1954)_(Ký ức và sự lãng quên)



    -MOVIE : Вьетнам (1955) | 4K_(Việt Nam (1955)_Phim mầu của Liên Xô về chiến thắng Điện Biên Phủ.

    • 1955: Вьетнам (Vietnam), about the Siege of Dien Bien Phu , by Roman Lazarevich Karmen was a Soviet war camera-man and film director .






    • -VIDEO :1954 OCT.09_Bộ Đội Việt Minh Cộng Sản vào Hà Nội_Chuyến đi đến Đông Dương của Guy La Chambre.

      -VIDEO :1952 APR.17th_Bắc Việt : Đánh bom vùng Việt Minh , người tị nạn chạy trốn khỏi lửa đạn .





       

      -VIDEO : Phim tài liệu của Pháp: Hà Nội năm 1952


      Hà Nội 1951



      Hanoï - Le grand marché de Cho-Dong-Xuan env 1950 :




      -VIDEO : 1946 MAR.18_Quân đội Pháp vào Hà Nội tháng 3 năm 1946_+ Défilé et revue des troupes françaises et viêt-minh à Hanoï en mars 1946.





      -VIDEO : 1946_Cuộc tấn công của Việt Minh tại Hà Nội tháng 12 năm 1946





      -VIDEO :1947 JAN. 23rd_Cuộc Chiến ở Đông Dương thuộc Pháp



      Hà-nôi , Tonkin , Indochine L e théâtre municipal dans le quartier de la Concession , sur la droite un pousse-pousse_01:01:1914


      Hà-nôi , Tonkin , Indochine La résidence du gouverneur général de l' Indochine_1921
      -Photo by Léon Busy









      Dinh Thống đốc, đối diện với Vườn Bách thảo.
      1910_Phủ toàn quyền Đông Dương (Gouvernement Général de L’Indochine) do kiến trúc sư Ch. Lichtenfelder thiết kế và được xây dựng trong những năm 1901-1906 .

      -The Governor General’s Mansion in Hanoi (1945): (Dinh Toàn quyền ở Hà Nội (1945) :




      Image taken at the Governor General’s Mansion in Hanoi, French Indochina, September 1945. Colonel Hutson poses with U.S., Chinese, and Vietnamese officials.- Image taken at the Governor General's Mansion in Hanoi, French Indochina, September 1945.

      SOURCE: http://www.macarthurmemorial.org/gallery.aspx?PID=132
      -On September 28, 1945, following the surrender ceremony of the Japanese troops to the Allied Forces in Hanoi, the First Front Army of China and the officers of the U.S. Army Headquarters in South Yunnan Province took a group photo.
      - Hình ảnh chụp tại Dinh Toàn quyền ở Hà Nội, Đông Dương thuộc Pháp, tháng 9 năm 1945.
      -Vào ngày 28 tháng 9 năm 1945, sau lễ đầu hàng của quân đội Nhật Bản trước Lực lượng Đồng minh tại Hà Nội, Tập đoàn quân số 1 của Trung Quốc và các sĩ quan của Bộ chỉ huy quân đội Hoa Kỳ ở tỉnh Nam Vân Nam đã chụp ảnh chung.


      + NAM ĐỊNH - THỦ PHỦ THƯƠNG MẠI CỦA BẮC KỲ
      (Nam Dinh Capitale commerciale du Tonkin)
      Nằm trong bộ phim tài liệu Au Tonkin (Ở Bắc Kỳ), được Chính quyền Đông Dương đặt hàng và sản xuất trong khoảng thời gian từ năm 1923 đến năm 1925, nhằm báo cáo với mẫu quốc về các khía cạnh của đất nước và sự phát triển của các vùng lãnh thổ Đông Dương. Cuối năm 1916, theo đề nghị của Albert Sarraut, Toàn quyền Ðông Dương, Chính phủ Pháp cử đoàn nhiếp ảnh, điện ảnh quân đội sang Ðông Dương quay phim, chụp ảnh để giới thiệu về cuộc sống, phong tục, phong cảnh đất nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Đoàn này được điều hành bởi René Tétart, cựu nhân viên điều hành SCA trong Thế chiến thứ nhất, đã thực hiện các công việc ghi hình ở Đông Dương từ năm 1916 đến năm 1935.
      Năm 1921, bộ phim này và 20 bộ phim khác được trình chiếu ở Pháp và triển lãm ở Marseille và Paris.
      Trong các phân đoạn phim "Nam Định, thủ phủ thương mại của Bắc Kỳ" bao gồm các phân đoạn: Chùa tháp Phổ Minh, Toàn cảnh thành phố, Chợ - Toàn cảnh chợ, hàng xe kéo, Hoạt động trên phố người An Nam và Phố người Hoa; Cảng thương mại - Toàn cảnh tàu thuyền neo đậu trên bến cảng và trên sông. Cột cờ Nam Định - Đài quan sát. Nghĩa trang người Hoa với các lăng mộ được tạo hình cầu kỳ; và cuối cùng trở lại Chùa Tháp Phổ Minh.







      27/09/1952_  Les troupes vietnamiennes défilent pour clôturer la cérémonie de baptême de la première promotion du centre de formation tactique des officiers vietnamiens.

      Le portrait officiel du chef d'Etat du Vietnam, M. Bao Daï, surplombe la façade du théâtre.
      A commissioning ceremony held in front of the Hanoi Opera House
      Buổi Lễ được tổ chức trước Nhà hát Lớn Hà Nội


      27/09/1952_Cérémonie de baptême de la première promotion du centre de formation tactique des officiers vietnamiens.

      (Lễ Mãn Khóa đầu tiên của Trung tâm huấn luyện chiến thuật sĩ quan Việt Nam)En arrière-plan, le théâtre municipal d'Hanoï surmonté du portrait de Bao Daï, chef d'Etat du Vietnam.
      (Phía sau là Nhà hát thành phố Hà Nội với bức chân dung của Bảo Đại, Quốc Trưởng Quốc Gia Việt Nam).






      27/09/1952_

       Des soldats portent le drapeau vietnamien lors de la cérémonie de baptême de la première promotion du centre de formation tactique des officiers vietnamiens

      Các chiến sĩ mang cờ Việt Nam trong lễ Mãn Khoá đầu tiên của Trung tâm huấn luyện sĩ quan chiến thuật Việt Nam.

      27/09/1952_

      Troupes vietnamiennes défilant à l'occasion de la cérémonie de baptême de la première promotion du centre de formation tactique des officiers vietnamiens.
      Quân đội Việt Nam diễn hành trong lễ Mãn khóa đầu tiên của Trung tâm huấn luyện sĩ quan chiến thuật Việt Nam.


      27/09/1952_

      Baptême de la première promotion du centre de formation tactique des officiers vietnamiens.
      Lễ Mãn Khoá đầu tiên của trung tâm huấn luyện chiến thuật sĩ quan Việt Nam 
       
       Trước Nhà hát Lớn Hà Nội_Từ trái sang phải:  Tướng de Linares, Tổng tư lệnh Lực lượng Lục quân Bắc Việt Nam (FTNV),Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam; Ông Phạm Văn Bình, Toàn quyền Bắc Việt Nam.

      27/09/1952_

      Discours du général Nguyen Van Hinh pour la cérémonie de baptême de la première promotion du centre de formation tactique des officiers vietnamiens.
      -Diễn văn của  Tướng Nguyễn Văn Hinh tại lễ Mãn khóa đầu tiên của Trung tâm huấn luyện chiến thuật sĩ quan Việt Nam.
      Au centre de gauche à droite : le général de corps d'armée de Linarès, commandant en chef des FTNV (forces terrestres du Nord-Vietnam), le général de l'Armée nationale du Vietnam Nguyen Van Hinh et M. Pham van Binh, gouverneur du Nord-Vietnam
      Ở giữa từ trái sang phải: Trung tướng de Linarès, Tổng tư lệnh Lực lượng Lục quân Bắc Việt Nam (FTNV), Tướng Nguyễn Văn Hinh của Quân đội Quốc gia Việt Nam và ông Phạm Văn Bình, Toàn quyền Bắc Việt Nam.


      De dos assis, de gauche à doite : M. Pham Van Binh, gouverneur du Nord-Vietnam ; le général de l'Armée nationale vietnamienne Nguyen Van Hinh, ; le général de Linarès, commandant en chef des FTNV (forces terrestres du Nord-Vietnam).

      Le Palais du Résident supérieur du Tonkin.

      Dinh Thống Sứ Bắc Kỳ
      Dinh Thống sứ Bắc Kỳ (Palais du Résident Supérieur) ở cạnh vườn hoa Paul Bert (còn gọi là "Vườn hoa con cóc") gần Hồ Gươm, Hà Nội được khởi xây năm 1917 do kiến trúc sư Bussy hoạch định để làm tư dinh cho Thống sứ Pháp. Mặt trước dinh nhìn ra Boulevard Henri Rivière (nay là đường Ngô Quyền).Ngày nay tòa nhà được đổi tên thành Nhà khách Chính phủ.

      Dinh Thống sứ Bắc Kỳ (Palais du Résident Supérieur)



      đối diện với Hotel Metropole là  Bureau de la Residence Superieur





       




                            Anniversaire des rois Hung Vuong à Hanoï.

      Lễ giỗ tổ Hùng Vương tại Hà Nội.
      04/04/1952_L'entrée du Palais du gouvernement lors de la fête commémorative des rois Hung Vuong, fondateurs de la nation vietnamienne.  
       Lối vào Phủ Thủ Hiến trong lễ hội tưởng niệm các vua Hùng Vương, những người sáng lập ra quốc gia Việt Nam.

      04/04/1952_M. Pham Van Binh sort du Palais de gouvernement à l'issue de la cérémonie pour fête commémorative des rois Hung Vuong, fondateurs de la nation vietnamienne.
      Ông Phạm Văn Bình rời khỏi Phủ Thủ Hiến sau khi kết thúc lễ tưởng niệm các vua Hùng Vương, những người sáng lập ra dân tộc Việt Nam.

      15/07/1952_Meeting à l'occasion de la cérémonie de présentation du nouveau gouvernement à la population
      Tụ tập nhân dịp lễ ra mắt chính quyền mới trước nhân dân
      Une immense foule est venue manifester son soutien au nouveau gouvernement sur la place du théâtre de Hanoï. Des personnalités du gouvernant de l'Etat du Vietnam, dont M. Phan Van Gio, vice-président et ministre de l'Information, et M.Hoang Nam Mung, ministre de la Pacification, haranguent la foule. M. Pham Van Binh, gouverneur du Nord-Vietnam, et M. Nguyen Van Tam, ministre de l'Etat du Vietnam, sont dans la tribune installée sur le les escaliers du théâtre municipal d'Hanoï.
      Một đám đông khổng lồ đã tụ tập tại quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội để thể hiện sự ủng hộ đối với chính phủ mới. Các quan chức chính phủ Việt Nam, bao gồm Phó Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Thông tin Phan Văn Giờ và Bộ trưởng Bình định Hoàng Nam Mừng, đã phát biểu trước đám đông. Thủ Hiến Bắc Việt Phạm Văn Bình và Thủ Tướng Chính phủ Quốc Gia Việt Nam Nguyễn Văn Tâm đã có mặt trên bục dựng trên bậc thềm Nhà hát Thành phố Hà Nội.
      15/07/1952_La foule s'est réunie devant le théâtre municipal d'Hanoï, qui est surmonté d'un portrait M. Bao Dai, chef de l'Etat du Vietnam. Des drapeaux du Vietnam ornent la façade du théâtre. Les personnalités politiques de l'Etat du Vietnam sont installées dans une tribune placée sur les escaliers du théâtre.
      Đám đông tụ tập trước Nhà hát Thành phố Hà Nội, trên đó treo bức chân dung của Bảo Đại, Quốc Trưởng Quốc Gia Việt Nam. Quốc kỳ Việt Nam trang trí mặt tiền nhà hát. Các nhân vật chính trị của Quốc Gia Việt Nam ngồi trong một phòng trưng bày được dựng trên bậc thềm của nhà hát.



      15/07/1952 _Lễ ra mắt chính quyền mới trước nhân dân tại Nhà hát Thành phố Hà Nội.
      M. Phan Van Gio, vice-président et ministre de l'Information, fait un discours à l'occasion de la cérémonie de présentation du nouveau gouvernement d'Union nationale à Hanoï.
      Ông Phan Văn Gió, Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng Bộ Thông tin phát biểu tại lễ ra mắt Chính phủ mới Liên Hiệp Quốc Gia tại Hà Nội.

      En arrière-plan, au centre, M. Pham Van Binh, gouverneur du Nord-Vietnam, et M. Nguyen Van Tam, ministre de l'Etat du Vietnam.
      Phía sau, ở giữa, là ông Phạm Văn Bình, Thủ Hiến Bắc Việt , và ông Nguyễn Văn Tâm, Thủ Tướng Quốc Gia Việt Nam.



      16/04/1952_

      Le Palais du Résident supérieur du Tonkin illuminé pour la cérémonie d'installation du nouveau gouverneur du Nord-Vietnam.M. Pham Van Binh.


      Dinh Thống Sứ Bắc Kỳ được thắp sáng để tổ chức lễ nhậm chức cho tân Thủ Hiến  Bắc Việt Ông Phạm Văn Bình.
       16/04/1952_Monseigneur Hoang Van Doan et le général de Linarès au Palais du Résident supérieur du Tonkin.
      Đức Cha Hoàng Văn Đoàn và Tướng de Linarès tại Dinh Thống Sứ Bắc Kỳ.

      Le général de Linarès, commandant des FTNV (forces terrestres en Indochine du Nord), et d'autres personnalités viennent assister à la cérémonie d'installation du nouveau gouverneur du Nord-Vietnam. A droite de profil, Monseigneur Trinh Nhu Khu, évêque d'Hanoï.
      Tướng de Linarès, tư lệnh Lực lượng Bộ Binh tại Bắc Đông Dương (FTNV), cùng các quan chức khác đã tham dự lễ nhậm chức của tân Thủ Hiến Bắc Việt. Bên phải, nhìn nghiêng, là Đức Cha Trịnh Như Khuê, Giám Mục địa phận Hà Nội.


      Tháp rùa 1954







      Demonstration supporting the Vietnamese National Army

    • -Demonstration in Hanoi opposing the Viet Minh's proposed partition of Vietnam. The banner read, 'Firmly oppose all solutions that violate national unity.'

      -Biểu tình tại Hà Nội phản đối đề nghị chia cắt Việt Nam của Việt Minh. Biểu ngữ có nội dung: "Kiên quyết phản đối mọi giải pháp vi phạm sự thống nhất dân tộc"

    • VIDEO :19/7/1954_Manifestation à Hanoï pendant la conférence de Genève. Biểu tình tại Hà Nội trong thời gian diễn ra hội nghị Genève.



    • -VIEW   

      Hà Nội: 1948-1954, những năm tháng cũ- Ðỗ Văn Minh.pdf






      Cờ vàng ba sọc đỏ
      Flag of South Vietnam.svg
      TênLá cờ Tự Do và Di Sản(Heritage and Freedom Flag)
      Sử dụngQuốc gia Việt Nam (1948-55)
      Việt Nam Cộng hòa (1955-75)
      -Cờ vàng ba sọc đỏ từng là biểu tượng quốc gia của Quốc gia Việt Nam từ 1948 đến 1955 và của Việt Nam Cộng hòa từ 1955 đến 1975.














      - Cờ Vàng ba sọc đỏ tung bay trên toàn cõi Việt Nam từ 1948-1954 :

      Lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay trước sân Phủ Toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ tịch) – 1953.



      -Anniversary Of French Resistance At Hanoi - Indochina (1951)_Quốc Trửơng Bảo Đại duyệt binh trước Nhà hát Lớn Hà Nội (1951):


      -VIDEO :1951 DEC 19th_Hoàng Đế Bảo Đại dự Lễ Kỷ Niệm tại Hà Nội và thăm binh sĩ tại mặt trận vùng Sông Đà.(Commémoration à Hanoï_

       l'empereur du Vietnam Bao Daï atterrit à Hanoï. Accompagné par le général Salan et le chef de brigade Allard, il vient commémorer la résistance des troupes françaises contre une attaque Viêt-minh cinq ans auparavant, le 19 décembre 1946)

      -Lễ Tưởng niệm ở Hà Nội_ Hoàng đế Việt Nam Bảo Đại đến Hà Nội. Cùng với Tướng Salan và Lữ đoàn trưởng Allard, ông đến tưởng niệm cuộc kháng chiến của quân đội Pháp chống lại cuộc tấn công Việt-minh 5 năm trước đó, vào ngày 19 tháng 12 năm 1946).

      -VIDEO :1951 JUL.14_QUỐC TRƯỞNG BẢO ĐẠI CHỦ TOẠ LỄ DIỄN HÀNH NGÀY QUỐC KHÁNH PHÁP TẠI HÀ NỘI.


      -VIDEO :1952 MAY 29_Quốc Trưởng Bảo Đại cùng với Tướng Salan tham dự một giải bóng đá tại Hà Nội.





      - Hanoi 1954 - REVUE MILITAIRE_

      26/03/1954_A l'occasion de la prestation de serment des officiers de l'armée nationale vietnamienne, les autorités vietnamiennes et françaises saluent le drapeau.











































      Lễ diễn binh và tuyên thệ trung thành với Quốc trưởng của Quân đội Quốc gia tại Hanoi ngày 17-4-1954





      26/03/1954_ A l'occasion de la prestation de serment des officiers de l'armée nationale vietnamienne, M. Bao Daï et le général Hinh passent les troupes en revue.

      17 Apr 1954, Hanoi, Vietnam --- Original caption: Bao Dai Receives Oath of Allegiance at Hanoi Ceremony. Hanoi, North Vietnam: In an imposing military ceremony in Hanoi, Vietnamese King Bao Dai receives an oath of allegiance from the Vietnam National Army. Numerous officials of France, Vietnam and other nations were on hand. Here (at left), His Majesty Bao Dai reviews a unit of the army as General Hinh points them out. April 17, 1954. --- Image by © Bettmann/CORBIS


      Hanoi (17-4-1954) - Défilé militaire 
      Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam trong khối Liên Hiệp Pháp, tại buổi lể tuyên thệ trung thành của Quân đội QG. Đứng bên tay trái ông là tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng tham mưu trưởng QĐ QG VN.



      Hanoi 1954 - Soldats agenouillés lors d'une cérémonie officielle 
      Soldiers kneeling at an official ceremony - Lễ diễn binh và tuyên thệ trung thành với Quốc trưởng của Quân đội Quốc gia tại Hanoi ngày 17-4-1954



      1954 Des femmes assistant à un défilé militaire à Hanoï 
      những phụ nữ tham dự lễ diễn binh ở Hanoi
























      Hanoi 1954 - Défilé militaire - Jeunes femmes assistant au défilé militaire 
      Military Parade - Young women attending the military parade




      -VIDEO :1954 JUN 02_Hà Nội Ông Nguyễn Hữu Trí, Thủ Hiến Bắc Việt, tham dự Buổi Lễ Diễn Hành ngày Đoàn Kết .





























      - Thủ Tướng Ngô Đình Diệm (bên phải) và Bác sĩ Hoàng Cơ Bình tại Dinh Thủ Hiến Hà Nội (La résidence du gouverneur à Hanoï) (Tháng 5, 1954).
























      - Bác sĩ Hoàng Cơ Bình , Chủ Tịch Uỷ Ban Bảo Vệ Bắc Việt và Tướng Cogni ,Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Bắc Việt, đón rước Thủ Tướng Ngô Đình Diệm theo lễ Nghi Quân Cách tại Hà Nội (Tháng 5, 1954)





    • được Chính quyền Đông Dương đặt hàng và sản xuất trong khoảng thời gian từ năm 1923 đến năm 1925, nhằm báo cáo với mẫu quốc về các khía cạnh của đất nước và sự phát triển của các vùng lãnh thổ Đông Dương. Cuối năm 1916, theo đề nghị của Albert Sarraut, Toàn quyền Ðông Dương, Chính phủ Pháp cử đoàn nhiếp ảnh, điện ảnh quân đội sang Ðông Dương quay phim, chụp ảnh để giới thiệu về cuộc sống, phong tục, phong cảnh đất nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Đoàn này được điều hành bởi René Tétart, cựu nhân viên điều hành SCA trong Thế chiến thứ nhất, đã thực hiện các công việc ghi hình ở Đông Dương từ năm 1916 đến năm 1935.







    -VIDEO : World Without War - Geneva Conference & Peace Signing (1954) 




    Hanoi, July 1954 - Streets crowded with people after cease-fire .

    Dân chúng mít tinh trước Nhà hát Lớn phản đối việc chia cắt đất nước, sau khi hiệp định đình chiến giữa Việt Minh và quân Pháp được công bố.




    -Hãy nhìn  rõ  Biểu ngữ của Dân Chúng Việt Nam tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, vào ngày 19 tháng 7 năm 1954 :

    1/-"Việt Minh đã Phản bội Tổ Quốc bằng Mưu Mô Chia Xẻ Đất Nước"

    2/- "Phản Đối Mưu Hồ Chia sẻ Đất Nước Việt Nam"

    3/- "Việt Minh Đã Phản Bội Quốc Gia Việt Nam 
           Họ Mưu Mô Chia Sẻ Đất Nước ".







    Hanoi_19/07/1954


























    Hanoi, July 1954 - Streets crowded with people after cease-fire announced - by Howard Sochurek_

    Dân chúng mít tinh trước Nhà hát Lớn phản đối việc chia cắt đất nước, sau khi hiệp định đình chiến giữa Việt Minh và quân Pháp được công bố.










    "Indochine".














    -PHOTO : Last Days of Hanoi - 1954 _130 photos


    -VIDEO : Indo-China - The road to safety: (1954)_Đông Dương - Con đường đến an toàn: (1954)


    -VIDEO :HÀ NỘI XƯA_Photo Slideshow.

    -St Joseph Cathedral Hanoi  on the Google Map:


    St. Joseph's Cathedral, Hanoi_ Neo-Gothic design of this 1886 Catholic cathedral, the city's oldest church, echoes Notre Dame.


    St. Joseph's Cathedral, Hanoi before 1954





    @ the St. Joseph's Cathedral, Hanoi before 1954





    The annual Marian Procession in Hanoi before 1954.








    -Văn Miếu - Quốc Tử Giám
     is a Temple of Confucius in Hanoi, northern Vietnam. The temple hosts the "Imperial Academy" (Quốc Tử Giám), Vietnam's first national university. The temple was built in 1070 :




    Hanoi before 1954_Tiểu Chủng Viện Piô XII Hà Nội.
    - DI CƯ - 1954 : 

    - Di cu 1954 :



    -VIDEO : Di cu 1954_Cuộc hành trình đầy gian khổ của gần 1 triệu người di cư từ Bắc vào Nam năm 1954.









    1954: TT NĐ Diệm & dân Sàigòn đón tàu di cư từ M.Bắc cập bến Sàigòn : 



    - Indo-Chinese Catholics Flee From Communist Rule (1954):






    -VIDEO :
    1954_Dân Sàigòn đón tàu di cư cập bến Sàigòn




    L'exode du nord Vietnam:



    -VIDEO :

    -VIEW :Từ Hà Nội đến Sài Gòn 1954 _Evacuation de la population civile du Nord Viêtnam




    -VIEW :"xem online " toàn bộ "L'Illustration, Journal Universel " Từ 1883 đến 1907 tại đây : https://onlinebooks.library.upenn.edu/webbin/serial?id=illusfr


    Trận thành Gia định hay Trận Gia Định là một trận chiến diễn ra vào rạng sáng ngày 17 tháng hai năm 1859, giữa liên quân Pháp và Tây Ban Nha với quân đội vương quốc Đại Nam. Kết quả quân đội Đại Nam thất bại và thành Gia Định cùng các đồn lũy quân sự khác dọc sông Lòng Tàu bị liên quân Pháp và Tây Ban Nha san phẳng.

    L'Illustration, Journal Universel (tạm dịch: Minh Họa - Tạp chí Toàn cầu), số 843, xuất bản năm 1859 tại Pháp. Đây là một tờ tạp chí minh họa nổi tiếng của Pháp, xuất bản từ năm 1843 đến 1944.
    Số báo này đặc biệt vì có 2 trang kèm hình minh họa có bài tường thuật "trực tiếp" từ chiến trường Sài Gòn-Gia Định, kèm tường thuật về trận đánh Sài Gòn ngày 17-18 tháng 2 năm 1859 — sự kiện quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công và chiếm thành Sài Gòn, đánh dấu mở đầu quá trình thực dân hóa Việt Nam của Pháp. Tài liệu được viết từ góc nhìn của phía Pháp. Phóng viên V.Paulin.

    ----------------------------------
    Bối cảnh: hơn 5 tháng bị sa lầy tại Đà Nẵng do sức kháng cự mãnh liệt của quân triều đình Huế, cộng với năm đó (1858), Đà Nẵng nóng như thiêu (thường 41 độ) kèm mưa khiến liên quân Pháp-Tây Ban Nha khốn đốn, chết vì bệnh dịch khủng khiếp.
    Tây Ban Nha tham chiến vì nhà Nguyễn xử tử giáo sĩ Diaz, một giáo sĩ trẻ và là bạn thân của nhiều nhân vật hoàng gia Tây Ban Nha, trong đó rất thân với nữ Hoàng Pháp (tức là vợ Napoleon III) bà ta rất uất ức chuyện này nên xúi giục chồng quyết tâm đánh bằng được.
    Liên quân định đánh ra Bắc, nhưng Petrus Queen [một phiên dịch cho liên quân, người Bắc, rất có thể là Tạ Văn Phụng] khuyên nên đánh vào Gia Định, vùng đất giàu có. Pháp nghe lời.
    ----------------------------------
    Cuộc Viễn chinh Nam Kỳ -Expédition de Cochinchine.

    Trang 264:
    Những tin tức mới nhất từ Nam Kỳ gửi về Bộ Hải quân đã thông báo về việc chiếm được Sài Gòn, Cao Miên (Campuchia), bởi một bộ phận của đoàn quân viễn chinh Pháp-Tây Ban Nha, dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Rigault de Genouilly.
    Chúng tôi đồng thời nhận được ba bức tranh vẽ mà độc giả chắc chắn sẽ rất vui khi được xem; những bức tranh này, nhờ sự nhiệt tình không mệt mỏi của phóng viên xuất sắc của chúng tôi là ông Roux, ghi lại những sự kiện thú vị nhất của cuộc viễn chinh thắng lợi. Vì các thông tin chúng tôi nhận được trùng lặp với bản báo cáo rõ ràng và mạch lạc của đô đốc, chúng tôi chỉ xin tóm lược lại.

    Hạm đội gồm các tàu Phlégéton, Primauguet, các pháo hạm l'Alarme, l'Avalanche và la Dragonne; các tàu vận tải la Durance, la Meurthe và la Saône, cùng tàu hơi nước Tây Ban Nha El Cano, đã rời Đà Nẵng (Touranne) ngày 2 tháng 2. Ngày 9, hạm đội tập kết tại cửa sông Sài Gòn cùng bốn tàu chở lương thực, ngựa, v.v.

    Ngày 10, buổi sáng, hai pháo đài bảo vệ vũng neo đậu phía trong mũi Saint-Jacques (Vũng Tàu) bị tấn công và phá hủy. Sau khi trinh sát, toàn bộ hạm đội thả neo ngày 11 tại lưu vực Vigna?; pháo đài Cần Giờ trên đường tiến quân bị pháo kích, bị đạn của tàu Phlégéton đốt cháy rồi nổ tung.
    Đô đốc ngược dòng sông dẫn đầu hai tàu hộ tống hơi nước, ba pháo hạm và tàu Tây Ban Nha, kéo theo các thuyền chiến nhỏ. Lực lượng đổ bộ lần lượt chiếm các pháo đài Onghia? Biquecaque, Kiala, Tay -Bay, Tang- Ki từ ngày 11 đến 15. Tất cả các công sự — bảo vệ các khúc quanh của sông — đều bị hạ với tinh thần chiến đấu cao nhất, bất chấp những khó khăn của địa hình lầy lội và vô số chướng ngại vật.

    Tối ngày 15, Đô đốc Rigault tiến đến trước hai pháo đài do kỹ sư người Pháp xây dựng [từ thời chúa Nguyễn Ánh] — những pháo đài bảo vệ Sài Gòn phía nam, trong khi thành (citadelle) bảo vệ phía bắc.
    Một trong hai pháo đài lộ ra một mặt, lập tức bị tấn công và bị áp chế; pháo đài thứ hai bị che khuất sau một nếp đất, phải đợi đến hôm sau sau khi đã chuẩn bị đầy đủ. Khi trời sáng, các tàu chiến bố trí vị trí chiến đấu cách pháo đài 800 mét, trên một tuyến mặt trận, sát cạnh nhau.
    Tàu Avalanche đi trinh sát sơ đồ thành Sài Gòn. Thành này có hình thức lũy pháo đài, nằm cách pháo đài do quân ta chiếm 800 mét; mỗi mặt thành dài 475 mét và gần như toàn bộ bị che khuất bởi rừng cây, vườn tược và nhà cửa.

    Ngày 17, từ tảng sáng, toàn bộ tàu chiến vào vị trí: tàu Phlégéton đối diện cổng thành, các tàu Primauguet, l'Alarme và l'Avalanche ở phía trước, tàu Dragonne, El Cano và Prégent ở phía sau. Hỏa lực ban đầu rất thưa thớt, dần tăng cường độ, nhưng luôn chính xác đến mức hỏa lực của địch — đạn xuyên qua cột buồm — sớm giảm hẳn.

    Thời cơ tấn công đã đến: quân lính đổ bộ lên bờ, tập hợp thành đội hình dưới sự che chắn của nhà cửa, dưới sự bảo vệ của pháo và lính bắn tỉa bố trí trên cột buồm. Khi quân tập trung xong, pháo đài ở góc đông nam vẫn còn bắn; Chỉ huy Des Paillères nhận lệnh tiến vào bụi rậm phía trái cùng hai đại đội lính thủy đánh bộ và các đại đội từ tàu Phlégéton, Primauguet, El Cano, mở hỏa lực mạnh từ trong rừng vào những pháo thủ còn bám trụ. Đại úy Gallimard cùng lính công binh được tăng cường vào đội hình này để phá cổng hoặc tạo điều kiện leo thang.
    -----------------
    Trang 265:
    Một đại đội lính bắn tỉa Tây Ban Nha dưới quyền Chỉ huy [của đại tá] Palanca được giao nhiệm vụ hỗ trợ khi cần. Một tiểu đoàn ở lại dự bị tại bãi biển dưới quyền Trung tá Reybaud. Cuối cùng, lực lượng Tây Ban Nha do Đại tá Lanzarotte chỉ huy và nửa tiểu đoàn lính thủy phía trái sẵn sàng xung phong cùng pháo hạng nhẹ về phía tường thành.

    Hỏa lực của lính bắn tỉa đạt hiệu quả hoàn toàn; quân An Nam bị đánh từ khắp phía, bỏ lại pháo, và quân ta — Hạ sĩ quan Henri des Paillères dẫn đầu — xông lên tấn công bằng thang leo.
    Trong khi đó, ở cánh phải, một toán quân An Nam đông hơn một nghìn người vẫn nổ súng vào một đại đội bộ binh của ta. Đại tá Lanzarotte được giao đẩy lui họ cùng quân của mình sang bên kia nhánh sông chạy dọc mặt bắc của pháo đài. Động tác này được thực hiện nhanh chóng và dứt khoát.

    Mười giờ sáng, mọi việc đã xong. Buổi chiều, các đại đội đổ bộ quay về tàu, trong khi toàn bộ quân Pháp và Tây Ban Nha chiếm đóng những doanh trại rộng lớn bên trong thành.
    Đó là diễn biến các trận đánh liên tiếp trong vòng một tuần, khiến đoàn quân viễn chinh Pháp-Tây Ban Nha làm chủ 25 dặm sông, được bảo vệ bởi ba chuỗi chướng ngại và mười một pháo đài, cùng thành phố và thành Sài Gòn.

    Tổn thất của quân triều đình rất lớn; của ta không đáng kể — chỉ có một số ít bị thương. Dù tất cả đều kiệt sức vì tốc độ chiến dịch, tình hình sức khỏe của đoàn quân viễn chinh rất khả quan.

    Việc chiếm thành Sài Gòn và các pháo đài trên sông thu được một lượng chiến lợi phẩm đáng kể: khoảng 200 khẩu pháo bằng sắt và đồng, một tàu hộ tống và bảy thuyền chiến còn trên đà đóng tàu, 20.000 vũ khí bộ binh, 85.000 kg thuốc súng, diêm tiêu, lưu huỳnh, v.v.; một két quân sự chứa 130.000 franc. Thiệt hại của triều đình An Nam ít nhất là 20 triệu franc.

    Việc chiếm Sài Gòn sẽ có tác động tinh thần lớn và tác động mạnh mẽ đến tư tưởng của Hoàng đế và các cố vấn của ông. Thành phố này vốn có tiếng — như Huế — là bất khả xâm phạm. Nó thực sự được phòng thủ kiên cố, và các quan đại thần do Hoàng đế cử đến để bảo vệ đã hoàn toàn tin tưởng vào thắng lợi.

    Sự bình thản do những đảm bảo đó mang lại chắc chắn đã nhanh chóng bị phá vỡ tại triều đình An Nam bởi chiến công vừa kể trên; nhưng kết quả của nó có lẽ là sự sẵn lòng hơn để nhượng bộ các yêu cầu của chúng ta từ phía Hoàng đế, vì sợ những tai họa mới chắc chắn sẽ cập đến.
    Phóng viên V. Paulin, [tường thuật từ chiến trường.]










                                                           PRISE DU FORT DE VANTAO, DANS LA RIVIERE DE SAIGON, LE 10 FEVRIER 1859.



    ASSAUT DE LA CITADELLE DE SAIGON PAR LE CORPS EXPEDITIONNAIRE FRANCO - ESPAGNOL. LE 17 FEVRIER 1859 -D'après le croquis envoyé par M. L Roux, secrétaire de l'amiral Rigault de Genouilly





                    ATTAQUE DE LA CITADELLE DE SAIGON, Le 17 Février 1859 . D'après le croquis envoyé par M. L Roux, secrétaire de l'amiral Rigault de Genouilly





    L'Illustration, Journal Universel Volume 33 covers the first half of 1859 (January–June)



    L'Illustration, Journal Universel (tạm dịch: Minh Họa - Tạp chí Toàn cầu), Số 821, Tập XXXII — 20 tháng 11 năm 1858 tại Pháp. Đây là một tờ tạp chí minh họa nổi tiếng của Pháp, xuất bản từ năm 1843 đến 1944.
    Số báo này đặc biệt vì có 3 trang kèm hình minh họa có bài tường thuật "trực tiếp" từ chiến trường Đà Nẵng, ngày 1 tháng 9 năm 1858— sự kiện quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công và chiếm thành bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, đánh dấu mở đầu quá trình thực dân hóa Việt Nam của Pháp. Tài liệu được viết từ góc nhìn của phía Pháp. Phóng viên V.Paulin.

    ---------------------------------
    Các cức tranh khắc gỗ do họa sĩ Le Breton thực hiện (chữ ký góc dưới trái), dựa trên bản vẽ thực địa của chuẩn úy Ernest Dumont trên tàu — một tài liệu hình ảnh gốc rất quý giá về sự kiện ngày 1/9/1858.
    --------------------------------
    Bối cảnh:
    Giữa thế kỷ 19, các nước Châu Âu phát triển nhanh, việc xâm chiếm thuộc địa là tất yếu. Giữa Pháp và An Nam có nhiều "duyên nợ" nhưng có 3 vấn đền chính:
    1. Truyền Đạo đang bị nhà Nguyễn cấm rất mạnh, nhiều giáo sĩ Pháp bị xử tử.
    2. Hiệp ước Véc-xai giữa giám mục Bá Đa Lộc (thay mặt chúa Nguyễn Ánh) ký với triều đình Pháp năm 1787, dù Pháp không thực hiện, nhưng vẫn là cái cớ để Pháp nhiều lần đòi hỏi triều đình thực hiện và bị bác bỏ.
    3. Việc buôn bán bị chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Nguyễn cản trở, từ khi vua Thiệu Trị nối ngôi, có cho phép Pháp buôn bán nhưng chỉ ở cảng Đà Nẵng, không được đem theo giáo sĩ, không được bán hàng trực tiếp với người dân,không được đi đâu khỏi cảng Đà Nẵng, mua bán phải thông qua trung gian là các quan lại. Tệ nạn nhũng nhiễu (theo phía Pháp tố), đòi hối lộ, thu phế, dìm giá, ....khiến thương nhân Pháp không thể buôn bán được và lỗ nặng.
    Tại sao Tây Ban Nha tham chiến?
    Có nhiều giáo sĩ Tây Ban Nha cũng truyền đạo tại miền Bắc, Trung...thực tế, từ 1856, các giáo sĩ Tây Ban Nha đã viết tường trình gửi về toàn quyền Phillipines kêu gọi can thiệp quân sự bảo vệ tự do tôn giáo, chính Tây Ban Nha đã đo vẽ bản đồ miền Bắc để dự định can thiệp quân sự, nhưng thấy miền Bắc loạn vì khởi nghĩa, người dân vì thế nghèo đi, Tây Ban Nha bỏ ý định.
    Việc triều đình xử t.ử giáo sĩ Diaz, một người bạn của Hoàng gia Tây Ban Nha, bạn thiếu thời của nữ hoàng Pháp (bà này người Tây Ban Nha) đã khiến liên minh quân sự ra đời.
    -----------------------------
    Triều đình Huế đối phó ra sao?
    1. Triều đình cùng tăng cường phòng thủ, tăng quân, tăng vũ khí, nguồn tin "tình báo" thường từ Singapore và Hương Cảng. Triều đình vẫn cử người qua lại 2 nơi này.
    2. Đối với những người theo Công giáo, triều đình thẳng tay đàn áp, nhiều chính sách khắc nghiệt như "thích chữ Tả Đạo vào mặt" "Phân Tháp" (cho ghép người theo Đạo với người bên Lương).
    3. Với các cuộc nổi dậy của người dân (chủ yếu dân Bắc) cũng thẳng tay trừng trị.
    4. Tiếp tục bế quan tỏa cảng mạnh hơn, xiết chặt kiểm soát tàu bè nước ngoài nhập cảng.
    -------------------------------
    Có cuộc đàm phán nào trước đó không?
    Năm 1856, phía Pháp có đoàn ngoại giao của Charles de Montigny (Tháng 10/1856) làm đại diện toàn quyền) dẫn đầu một phái đoàn đến Huế để đàm phán, có 3 yêu cầu:
    1. Tự do tôn giáo
    2. Mở cửa thông thương các cửa biển Đà Nẵng, Hội An, Gia Định..
    3. Đặt lãnh sự tại Đà Nẵng.
    Triều đình bác bỏ hoàn toàn, trước đó theo lễ thì Charles de Montigny phải quỳ lạy vua Tự Đức, nhưng Montigny nói chỉ cúi mình quỳ một chân dâng thư, vua rất tức, cho đuổi Pháp đi không tiếp.
    -------------------------------
    Bản dịch:
    LỊCH SỬ TUẦN QUA
    Chúng tôi đã nhận được, từ hai phóng viên của mình, các bản vẽ về cuộc tấn công và chiếm đóng các pháo đài Đà Nẵng (1). Bạn đọc sẽ tìm thấy chúng ở trang đầu và trang thứ năm. Những bản vẽ này đi kèm với các bài tường thuật mà chúng tôi rất muốn đăng, nếu như ngài Bộ trưởng Hải quân không nhận được — qua cùng con tàu khởi hành từ vịnh Đà Nẵng ngày 17 tháng 9 — bản tường trình chính thức về kết quả tốt đẹp của chiến dịch chống lại xứ An Nam (2) của chúng ta.
    VIỄN CHINH ĐÀ NẴNG — BÁO CÁO CHÍNH THỨC
    Đây là bản tường trình chính thức của Đô đốc Rigault de Genouilly (3), Tổng tư lệnh lực lượng hải quân tại vùng biển Trung Hoa, dùng làm lời giải thích cho các bức họa của chúng tôi:
    Thưa ngài Bộ trưởng,
    Tôi trân trọng thông báo với ngài rằng các lệnh của Hoàng đế đã được thi hành trong việc chiếm đóng các pháo đài Đà Nẵng.
    Khởi hành từ Yu-li-Kan (4) vào sáng ngày 30 tháng 8, hạm đội Pháp — có sự tham gia của tàu hơi nước Tây Ban Nha El Cano trang bị hai khẩu pháo cỡ 16, và tàu Dordogne chở 450 quân từ Philippines vừa nhập đoàn vài ngày trước — đã thả neo tại Đà Nẵng vào tối ngày 31 cùng tháng.
    Sáng hôm sau, ngày 1 tháng 9, sau khi gửi văn bản yêu cầu tổng đốc các pháo đài bàn giao chúng cho tôi, và cho ông ta hai giờ để tuân lệnh — nhưng không nhận được hồi âm — tôi đã đồng thời tấn công tất cả các công sự kiểm soát khu neo đậu và hai pháo đài được xây dựng bởi các kỹ sư Pháp (5), bảo vệ cửa sông.
    Tất cả các thuyền trưởng, đặc biệt là thuyền trưởng Reynaud, đã điều động hoàn hảo để chiếm các vị trí được giao. Khi tất cả đã vào vị trí và đúng giờ đã định, hết hai giờ cho phép người An Nam, lá cờ Pháp kéo lên cột buồm lớn của tàu Némésis là tín hiệu cho tất cả tàu khai hỏa. Đồng thời cờ Tây Ban Nha cũng được kéo lên cột buồm trước.
    Sau nửa giờ pháo kích mạnh mẽ và chính xác, các pháo đài kiểm soát khu neo đậu đã bị dập tắt. Các đại đội đổ bộ từ tàu Némésis, Phlégéton, Primauguet và nửa đại đội công binh lập tức đổ bộ lên bờ dưới sự chỉ huy của hạm trưởng Reynaud, leo thang chiếm và đánh chiếm các pháo đài giữa tiếng hô "Vive l'Empereur!" (6). Tôi cùng tiến với cánh quân này.
    Không lâu sau, quân Pháp và Tây Ban Nha đổ bộ lên bờ và tôi dàn thành đội hình chiến đấu, phía trước và gần các pháo đài. Trong khi trận đánh diễn ra tại khu neo đậu cho các tàu lớn, ba pháo hạm của ta — Mitraille, Fusée, Alarme — cùng tàu hơi nước Tây Ban Nha El Cano pháo kích các pháo đài ở cửa sông.
    Một trong những pháo đài đó, thành An Hải (Fort de l'Est), nổ tung nửa giờ sau khi bắt đầu tấn công dưới những phát đạn công phá (7) của ta, với tiếng nổ kinh hoàng; phần tường tiếp giáp kho thuốc súng bị bứng toàn bộ văng xuống hào.
    Sau khi đích thân đi trinh sát — dưới sự hộ tống của một đại đội lính xung kích Tây Ban Nha — một vị trí thích hợp để lập trại trên phần bằng phẳng của bán đảo, gần thành An Hải, tôi cho điều toàn bộ quân Pháp đến đóng tại đó vào buổi tối dưới quyền chỉ huy của trung tá Reybaud, và tiểu đoàn Tây Ban Nha dưới quyền đại tá Oscaritz. Các đại đội đổ bộ tách từ tiểu đoàn thủy quân, đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của hạm trưởng Ribourt, chiếm giữ các công sự chủ yếu.
    Dù tôi đã thận trọng chỉ cho quân hành quân vào lúc mặt trời lặn, và dù họ chỉ phải đi hai giờ đường, cái nóng dữ dội đến mức nhiều binh sĩ đã gục ngã vì kiệt sức.
    Trong đêm từ ngày 1 sang ngày 2 tháng 9, chỉ huy Reynaud, có sự hỗ trợ của phó kỹ sư thủy văn Ploix, đã đo thủy lộ phần Tây Nam của vịnh để hôm sau có thể đưa pháo hạm tiếp cận thành Điện Hải (Fort de l'Ouest) vẫn còn cầm cự. Đến sáng, năm pháo hạm Alarme, Avalanche, Dragonne, Fusée, Mitraille và tàu hơi nước chiến đấu Tây Ban Nha El Cano, dưới sự điều phối của ông Reynaud, đã vào vị trí mới, và sau nửa giờ pháo kích với độ chính xác tuyệt vời, thành Điện Hải cũng nổ tung giống như thành An Hải dưới những phát đạn chính xác từ đại bác có rãnh xoắn (😎 của ta.
    Ngay sau đó, chỉ huy Jaureguiberry tiến vào sông Đà Nẵng với một đoàn thuyền vũ trang, đóng trạm gần An Hải. Tàu Dragonne và El Cano rời vịnh Đà Nẵng, thả neo bên ngoài gần trại, giữa bán đảo và đảo Cham-Callao (9), bảo vệ sườn trái của quân viễn chinh trong khi sườn phải tựa vào An Hải — nơi hai đại đội bộ binh Pháp và nửa đại đội Tây Ban Nha đóng giữ.
    Củng cố vững chắc tại vị trí này, tôi chờ đợi quân đội Annam (10) mà theo một số báo cáo thu thập được từ các nhà truyền giáo của ta, được cho là sẽ tiến đánh ta với quân số 10.000 người. Cho đến nay đạo quân này chưa xuất hiện.
    TÌNH TRẠNG CÁC PHÁO ĐÀI VÀ VŨ KHÍ THU ĐƯỢC
    Thành Điện Hải và tất cả các công sự khác đều trong tình trạng bảo dưỡng hoàn hảo, tất cả đều có trang bị pháo lớn bằng sắt và đồng. Các khẩu pháo đồng nhiều hơn và thường rất đẹp. Tất cả các khẩu pháo đều được gắn thước ngắm mới đặt; thiết bị pháo binh trong tình trạng tốt nhất và vượt trội so với tất cả những gì chúng ta đã thấy ở Trung Hoa.
    Ngoài vũ trang thông thường, Điện Hải còn chứa một kho pháo binh dã chiến (11) gồm các khẩu pháo đồng cỡ 6 và 9, với bánh xe rất cao, hoàn toàn phù hợp với những con đường xấu của xứ này.
    Tất cả đồng đã được thu hồi và chuyển lên tàu; các khẩu pháo sắt không dùng được đã bị phá hủy. Tôi đã giữ lại hai khẩu pháo đồng tuyệt đẹp để dâng lên Hoàng đế Pháp và Nữ hoàng Tây Ban Nha (12).
    Vũ khí cá nhân không có gì đặc biệt; đó là súng trường quân dụng sản xuất tại Pháp hoặc Bỉ. Thuốc súng — mà chúng ta thu được với số lượng khá lớn — có nguồn gốc Anh, có lẽ đã được mua tại Singapore và Hong Kong. Toàn bộ các sắp xếp cho thấy triều đình Annam đã dự đoán một cuộc tấn công sắp xảy ra.
    Tổng số súng các đồng minh chiếm được là 150 khẩu. Các khẩu pháo đồng đều xuất phát từ xưởng đúc hoàng gia Huế (13), được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII bởi các sĩ quan Pháp, các ông Dayot, Chaigneau và Vannier (14), được phong hàm quan nhất phẩm và lúc đó đứng đầu nền hành chính quân sự và quân đội Annam.
    THÔNG TIN BỔ SUNG
    Một phóng sự trên báo Le Pays cung cấp thêm chi tiết về các tình huống trước và sau khi chiếm đóng vịnh Đà Nẵng bởi đoàn quân viễn chinh Pháp-Tây Ban Nha.
    Vịnh Đà Nẵng là một cảng tuyệt vời, hình tròn, dài khoảng 5 kilômét. Cách cửa sông cùng tên khoảng 5 dặm là thành phố Đà Nẵng, được người bản địa gọi là Hàn San (Hausan) (15).
    Mục tiêu lớn nhất của cuộc viễn chinh là thành phố Huế, kinh đô của cả nước. Theo các thư từ gửi về từ hạm đội, đô đốc dự định tiến về điểm này ngay khi nhận được hồi âm từ Hoàng đế. Khi kinh đô nằm trong tay quân Đồng minh, toàn bộ đế quốc Annam với 6 triệu dân sẽ thuộc về họ.
    Cuộc viễn chinh chỉ mất hai người chết vì say nắng. Chỉ một tàu chiến, pháo hạm Dragonne, bị hư hại nhẹ ở hệ thống cột buồm, đã được sửa chữa xong ngay ngày hôm sau.
    Tin tức mới nhất cho biết quân đội Ân NAm với 10.000 quân đang ở vùng người Mọi (16), trên ranh giới Campuchia. Dân chúng vùng này vô cùng thù địch với hoàng đế Annam.
    ---------------------------------
    GHI CHÚ CỦA NGƯỜI DỊCH
    (1) Tourane — Tên gọi của người Pháp cho thành phố Đà Nẵng ngày nay. Sự kiện ngày 1/9/1858 thường được coi là mốc khởi đầu của quá trình thực dân hóa Việt Nam.
    (2) Cochinchine — Tên gọi của người Pháp cho vùng đất Nam Kỳ/Việt Nam nói chung. Lúc này người Pháp dùng từ này để chỉ toàn bộ xứ An Nam.
    (3) Đô đốc Rigault de Genouilly (1807–1873) — Tổng tư lệnh hạm đội Pháp-Tây Ban Nha trong chiến dịch này.
    (4) Yu-li-Kan — Có thể là phiên âm của một địa danh Trung Quốc (vùng biển Quảng Đông), nơi hạm đội đóng quân trước khi tiến vào Đà Nẵng.
    (5) "Hai pháo đài xây bởi kỹ sư Pháp" — Chỉ các công trình phòng thủ được xây dựng theo kiểu Vauban (kiến trúc quân sự Pháp) do các cố vấn quân sự Pháp phục vụ triều Nguyễn thiết kế từ đầu thế kỷ XIX.
    (6) "Vive l'Empereur!" — "Hoàng đế vạn tuế!" (tức Napoléon III, trị vì 1852–1870).
    (7) "Boulets rayés" — Đạn pháo bắn từ súng có rãnh xoắn, loại vũ khí hiện đại thời bấy giờ, chính xác và xuyên phá mạnh hơn súng nòng trơn cũ.
    (😎 "Canons rayés" — Pháo có rãnh xoắn, kỹ thuật quân sự tiên tiến của châu Âu giữa thế kỷ XIX.
    (9) "Île de Cham-Callao" — Có thể là đảo Cù Lao Chàm (Champa Island), ngoài khơi Hội An/Đà Nẵng.
    (10) "Armée annamite" — Quân đội nhà Nguyễn (triều Vua Tự Đức, 1847–1883).
    (11) "Parc d'artillerie de campagne" — Kho dự trữ và phương tiện pháo binh dã chiến di động.
    (12) Hoàng đế Pháp là Napoléon III; Nữ hoàng Tây Ban Nha là Nữ hoàng Isabel II (trị vì 1833–1868).
    (13) Xưởng đúc hoàng gia Huế — Xưởng đúc súng của triều Nguyễn tại Huế, nơi sản xuất nhiều khẩu đại bác đồng nổi tiếng, trong đó có Cửu Vị Thần Công.
    (14) Dayot, Chaigneau và Vannier — Các sĩ quan Pháp phục vụ dưới thời chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long). Jean-Baptiste Chaigneau và Philippe Vannier là những người nổi tiếng nhất, được phong tước và ở lại Việt Nam nhiều năm sau khi Gia Long thống nhất đất nước (1802).
    (15) "Hausan" — Phiên âm tiếng Pháp của "Hàn San" hoặc "Hàn", tên dân gian của vùng Đà Nẵng.
    (16) "Pays des Moys" — "Vùng người Mọi", tên gọi mang tính miệt thị của người Việt và người Pháp thời đó để chỉ các dân tộc thiểu số vùng cao nguyên (Tây Nguyên ngày nay).

    -----------------------------
    Tranh 1.VIỄN CHINH ĐÀ NẴNG. — PHÁO KÍCH CÁC PHÁO ĐÀI VỊNH ĐÀ NẴNG BỞI HẠM ĐỘI CỦA PHÓ ĐÔ ĐỐC RIGAULT DE GENOUILLY VÀ TÀU HƠI NƯỚC TÂY BAN NHA EL CANO, NGÀY 1 THÁNG 9 NĂM 1858.

    - Fort du Nord: Pháo đài Bắc (đồn Trấn Dương)
    - Fort de l'Observatoire: Pháo đài Đài Quan Sát (cũng gọi là đồn Hai, nằm trên đảo Cô, còn gọi là hòn Mồ Côi)
    - Batterie de 6 pièces: Trận địa pháo 6 khẩu
    - Fort de l'Aiguade: Pháo đài Aiguade (nằm ở phía đông cửa sông Hàn, khu vực bán đảo Sơn Trà ngày nay, thuộc nhóm các đồn phòng thủ phía Bắc)
    - Fort de l'Ouest: Pháo đài Tây (thành Điện Hải)
    - Kèm tên các chiến hạm....
    Theo bản vẽ gửi về bởi ông Ernest Dumont, chuẩn úy hải quân.
    ------------------------------
    Tranh 2. PRISE DE TOURANE: CHIẾM ĐÓNG ĐÀ NẴNG

    - Fort du Nord: đồn Trấn Dương.
    - Fort du Nord (Sémaphore): Trạm tín hiệu (Sémaphore — Trạm tín hiệu quang học trên đỉnh đồi, dùng để liên lạc bằng cờ hiệu hoặc đèn giữa các pháo đài và tàu thuyền ngoài khơi. Việc có một trạm như vậy cho thấy quân Nguyễn đã tổ chức hệ thống phòng thủ khá bài bản.
    - Frégate amirale / Kỳ hạm — Tàu chỉ huy của toàn hạm đội, nơi Phó Đô đốc Rigault de Genouilly đặt sở chỉ huy. Tàu Némésis là trung tâm điều phối toàn bộ trận đánh.
    - Fort de l'Aiguade — Xem ghi chú bức tranh trước. Trong hình này pháo đài này nằm ở phía xa bên phải, đang bốc khói sau khi bị pháo kích.
    - Entrée de la rade — "Rade" là vũng neo tàu rộng, có độ sâu đủ cho tàu chiến lớn. Đây là cửa vào chính của vịnh Đà Nẵng.
    ----------------------------
    Tranh 3. BÊN TRONG THÀNH ĐIỆN HẢI SAU KHI BỊ PHÁO KÍCH, VÀO LÚC QUÂN PHÁP THU DỌN CÁC KHẨU ĐẠI BÁC BỊ QUÂN AN NAM BỎ LẠI.
    Theo các bản vẽ của ông A. Theil, trên tàu Némésis.
















     
    EXPÉDITION DE COCHINCHINE. BOMBARDEMENT DES FORTS DE LA BAIE DE TOURANE PAR LA DIVISION DU CONTRE-AMIRAL RIGAULT DE GENOUILLY
    ET LE VAPEUR ESPAGNOL EL CANO, LE 1 SEPTEMBRE 1858.

    Art du Nord; B, fort de l'Observatoire; C, batterie de 6 pièces, D, fort de l'Aigunde; E, fort'de l'ouest, F, Avalanche: G, Gironde, h, Dragonude Vitraille, Fusée Alarme: N, Némesis, O, El Cano, P, Phlégéten, Q, Primanguet: S, Saone. D'après un dessin envoyé par M. Ernest Dumont, enseigne de vaisseau.



    INTÉRIEUR DU FORT DE D'OUEST APRÈS LE BOMBARDEMENT,  AU MOMENT DE  L'ENLEVEMENT  DES PIECES DE CANON ABANDONNEES PAR LES COCHINCHINOIS.

    - D'après les dessins de M. A. Theil, a

    Theil,






    PRISE DE TOURANE.


    1 Fort du Nord; 1 bis, fort du Nord (Semaphore); 2, Primauquet, 3, Phlégéton 4, Némésis, fregate amirale: 5, ilot et fort de l'Observatoire, 6, Avalanche; 1, Gironde, 8, Sadne, 9, Dragonne, 10, fort de l'Aiguade; 11, entrée de la rude.




    - covering July-December 1858.

    CHIẾN DỊCH COCHINCHINE — CHIẾM VÀ ĐỐT THÀNH BIÊN HÒA, NGÀY 18 THÁNG 12 NĂM 1861

    Đây là số báo đặc biệt vì có tường thuật từ chiến trường của phóng viên A. Spooner trực tiếp có mặt tại trận liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công đánh chiếm thành Biên Hòa, ngày 14 tháng 12 năm 1861 và kết thúc vào ngày 7 tháng Giêng năm 1862.
    -------------------------------------
    Số báo này có những phần liên quan đến Việt Nam:
    1. Trang bìa in chân dung Trang bìa in chân dung chuẩn Đô đốc [Contre-Amiral] Bonnard (Louis-Adolphe), tân chỉ huy cuộc viễn chinh Nam Kỳ [Commandant de l'Expédition de Cochinchine] — "D'après une photographie" (theo ảnh chụp). Đây là điểm đáng chú ý: năm 1862, L'Illustration đã dùng ảnh chụp làm cơ sở để khắc chân dung — kỹ thuật tiên tiến lúc bấy giờ.




    2. Đây là tường thuật "Expédition de Cochinchine — Prise et Incendie de Bien-Hoa, le 18 Décembre 1861", viết bởi phóng viên tùy quân A. Spooner, với hai hình khắc gỗ lớn:
    - Hình trên (trang 136–137): Cảnh tàu chiến Pháp trên sông Đồng Nai, khói bốc lên từ thành Biên Hòa đang bị đốt cháy.
    Hình dưới: Cảnh quân Pháp đổ bộ — nhưng chú thích ghi - "Expédition du Mexique — Débarquement des troupes françaises à la Vera-Cruz" — tức đây là hình về chiến dịch Mexico, không phải Việt Nam, được ghép chung trang.
    Nội dung thư của Spooner ghi nhận một số chi tiết lịch sử quan trọng:
    Tác giả đang ở trên tàu Ondine và vẽ cảnh thành Biên Hòa khi pháo của quân An Nam khai hỏa.
    -------------------------------
    Một số bản đồ in kèm gồm:
    1.CARTE DU THÉÂTRE DES DERNIÈRES OPÉRATIONS MILITAIRES EN COCHINCHINE" (Bản đồ chiến trường các chiến dịch quân sự mới nhất ở Nam Kỳ).
    Tỉ lệ 1/35.000 — Theo khảo sát chính thức của đội Công Binh quân viễn chinh và bản đồ của phóng viên Spooner.
    ĐỊA DANH CHÍNH
    Góc trái — Sài Gòn và vùng phụ cận
    - SAÏGON — trung tâm chỉ huy quân Pháp.
    - Travaux: Công trình xây dựng / công sự đang thi công.
    - Fort du Sud: Đồn phía Nam — đồn tiền tiêu bảo vệ Sài Gòn từ hướng nam.
    - Quanps (Quamps): Có thể là Quân phòng — đồn canh hoặc trại lính.
    - Arroyo des négociants allant à la ville chinoise: Kênh của các thương nhân đi đến phố Hoa kiều — tức kênh Tàu Hủ / Bến Nghé, dẫn đến Chợ Lớn.
    -Don-Naï-Fleuve de Saïgon: Sông Đồng Nai — đây là cách người Pháp gọi chung hệ thống sông Sài Gòn–Đồng Nai.
    Route des grands navires: Tuyến đường tàu lớn — luồng hàng hải chính từ biển vào Sài Gòn.
    Trung tâm bản đồ — Vùng giao tranh:
    - Tu-Duk, Village et Marché, Rizières: Làng và chợ Tự Đức???, ruộng lúa — địa danh mang tên vua Tự Đức.
    - Ft Annamite retournée par les Français: Pháo đài Annam đã bị quân Pháp chiếm và quay ngược lại (dùng để bắn vào chính quân Việt)
    - Route: Tuyến đường bộ chính Sài Gòn–Biên Hòa.
    - Plateau: Cao nguyên / vùng đất cao.
    - An-lock: An Lộc? — địa danh trên tuyến đường tiến quân/
    - Bois taillis entremêlés de Clairières et de grands arbres: Rừng thưa xen lẫn bãi trống và cây cổ thụ — mô tả địa hình chiến trường.
    - Các địa danh được viết bằng phiên âm kiểu Pháp...
    Vùng trung tâm — Tuyến tiến quân và đội hình chiến đấu:
    - Marche des troupes Espagnoles et de la Cavalerie, le 26 X: Hướng tiến của quân Tây Ban Nha và kỵ binh, ngày 26/12 — ghi chú diễn biến thực tế trên chiến trường.
    - Pour rejoindre le Camp ennemi: Để tiếp cận trại địch.
    - Pour aller à Yo-Cong: Đường đi đến Yo-Cong?
    - Mi-hoa: Mỹ Hòa — trại phòng thủ chính của quân Việt với 3.000 quân.
    - Carrières de pierres: Mỏ đá — địa hình đặc trưng vùng Biên Hòa, khác hẳn đồng bằng Sài Gòn.
    - Bois taillis très praticables: Rừng thưa có thể di chuyển được — ghi chú chiến thuật cho bộ binh.
    - Pays découvertVùng đất trống, không có che khuất — nguy hiểm cho quân di chuyển.
    Bờ phải sông Đồng Nai — Hệ thống phòng thủ của quân Việt:
    - Barrage naturel: Đập chắn tự nhiên — ghềnh đá chặn sông.
    - Tên các pháo đài, đồn lũy: Fort và các doanh trại: Camp.
    - Barrage détruit: Đập chắn sông đã bị phá hủy — ghi lại kết quả chiến đấu của thủy thủ Pháp trong đêm 14–15/12.
    - Batterie: Trận địa pháo.
    - Rivières et marécagesSông và đầm lầy.
    - Chon de Chasse (Champ de Chasse?): Khu săn bắn / ruộng canh tác.
    - Plaine très bien Cultivée:Đồng bằng canh tác rất tốt — ghi chú kinh tế của người lập bản đồ.
    - Ondine: Vị trí tàu Ondine — tàu của Đô đốc Bonard và phóng viên Spooner.
    - Point de jonction de la 1ère Colonne et des marins de débarquement: Điểm hội quân của cánh quân thứ nhất và lính thủy đổ bộ — ghi lại diễn biến ngày 15/12/1861.
    - Chemin présumé conduisant avec le Cap. St. Jacques: Đường ước tính dẫn đến Cap Saint-Jacques — tức Vũng Tàu.
    ---------------------------



    Chú thích bản đồ "Lever de la Place de Bien-Hoa et de ses environs"
    (Bản đồ thành Biên Hòa và vùng phụ cận — trang 144, L'Illustration No. 992)
    THÔNG TIN KỸ THUẬT:
    - Tỉ lệ bản đồ: 1/2.000
    - Tỉ lệ mặt cắt thành (Profil de la Citadelle): 1/300
    - Nguồn: Khảo sát chính thức của đội Công Binh quân viễn chinh + bản đồ phóng viên Spooner
    - Hướng: Mũi tên chỉ hướng Bắc (góc trên phải)
    BỐ CỤC TỔNG THỂ:
    Bản đồ thể hiện thị trấn Biên Hòa trải dài dọc theo bờ trái sông Đồng Nai (Rivière de Bien-hoa), với thành thành nằm ở góc trên trái — tách biệt khỏi khu dân cư bằng một vòng đường tròn bao quanh. Phía đông là Cù Lao Cát Lái (Île de Ca-Lao) nằm giữa dòng sông.
    CHÚ GIẢI CÁC KÝ HIỆU:
    - a: Mat de pavillon: Cột cờ
    - b: Palais Impérial: Cung điện / Dinh quan tỉnh.
    - c, d: Habitations des mandarins: Dinh thự/nơi ở của các quan lại
    - e, f: Magasins de riz: Kho lúa gạo.
    - g: Prison des détenus politiques: Nhà tù tù nhân chính trị
    - h: Prison des chrétiens: Nhà tù người Thiên Chúa
    - i, i': Maisons incendiées: Nhà cửa đã bị thiêu rụi
    - k, l: Maisons pouvant servir de casernement, d'hôpital ou de magasin: Nhà cửa có thể dùng làm doanh trại, bệnh viện hoặc kho
    - 1–9, 13–17: Pagodes: Chùa / đền — phân bố rải rác trong khu dân cư
    - 10–12: Magasins du chantier de construction: Kho xưởng đóng thuyền
    - 18: Cales couvertes: Ụ tàu có mái che
    - A: Point de débarquement des troupes: Điểm đổ bộ của quân đội
    - Canre 51 (Canonnière 51): Pháo hạm số 51 — neo đậu trên sông trước thành
    Ondine: Tàu thông tin Ondine — tàu của Đô đốc Bonard và phóng viên Spooner.
    -------------------------------
    Bối cảnh:
    Sau những chiến thắng ban đầu của quân Pháp tại Sài Gòn, chiến dịch Nam Kỳ rơi vào thế giằng co khi quân Pháp cùng đồng minh Tây Ban Nha bị bao vây tại Sài Gòn — thành phố vừa bị liên quân Pháp-Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Charles Rigault de Genouilly chiếm lĩnh vào ngày 17 tháng 2 năm 1859.
    Bất ngờ, chiến trường Trung Quốc nơi Pháp tham chiến bất lợi, Pháp phải kéo quân đi tăng viện, tại Sài Gòn, chỉ còn 3 đại đội (2 Pháp, 1 Tây Ban Nha) đóng quân, nếu triều đình Huế cho quân tấn công đồng loạt, liên quân chắc chết sạch. Nhưng quân triều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy lại đắp đồn, củng cố thành, bao vây quân giặc.
    Các phong trào yêu nước chống Pháp nổi lên như Trương Định liên tục đánh du kích cho Pháp mất ăn mất ngủ.
    Việc Nguyễn Trung Trực đốt cháy chiến hạm L'Espérance, diệt 17 lính và 20 cộng sự người Việt, chỉ có tám người trốn thoát (2 lính Pháp và 6 lính Tagal, tức lính đánh thuê Philippines, cũng còn gọi là lính Ma Ní).
    Tình hình khiến Pháp-Tây Ban Nha kinh hoàng quá, Charles Rigault de Genouilly mệt mỏi, về Pháp, Pháp cử Đô đốc Léonard Charner sang thay, Charner đã giải vây Sài Gòn bằng cách mở cuộc tấn công trận Kỳ Hòa, chiếm Mỹ Tho vào ngày 12 tháng 4 năm 1861. Nhưng tình thế vẫn rất khó khăn, Charner bèn bí mật cử một số sĩ quan Pháp trong đó có trung úy hải quân Pallu (tác giả cuốn Viễn Chinh Nam Kỳ 1861) ra Huế xin đàm phán rút quân, điều kiện là tự do tôn giáo và mở cửa thông thương, triều đình Huế bác bỏ hoàn toàn, vua Tự Đức có bài văn chửi Tây kinh khủng, ông nói Pháp phải cút sạch, ông thà lên núi ở với người "Mọi" còn hơn sống với Pháp.
    Charner kinh hoảng quá điện về Pháp kêu ốm lắm, xui Napoleon III rút quân sang Trung Quốc, Napoleon III ngập ngừng, cùng lúc đó triều đình Huế ra lệnh cấm đạo, giết đạo ngặt hơn (xem Dương Kinh Quốc, Việt Nam-Những sự kiện Lịch Sử 1858-1917) tất cả các quan lại ai có đạo phải bỏ ngay, nếu không ban cho dải lụa tự tử, dân đạo thích chữ vào mặt, cho phân tháp, nhốt các linh mục, thầy giảng bắt bước lên thánh giá, không bước chém ngay.Tin tức bay về tai Hồng Y Pháp và Hoàng Hậu Pháp, 2 người này bèn xúi giục Napoleon III bằng được phải trả thù cho những giáo sĩ vừa bị giết.
    Charner là viên tướng không được lòng quân sĩ (xem Leopold: Viễn Chinh Đà Nẵng-Nam Kỳ, 1858-1862), đánh trận cũng kém, tình thế nguy quá, Charner cáo ốm chuồn về Pháp.
    ---------------------------
    Tình hình đảo chiều, quân Thanh thua to, vua Thanh Hàm Phong ký hiệp ước với Pháp. Pháp lại thắng, có tiền bồi thường chiến phí, số lính tăng cường cho chiến trường Trung Hoa kéo hết sang Nam Kỳ, Pháp cử Phó Đô đốc Louis Adolphe Bonard (1805–1867)làm người kế nhiệm theo sắc lệnh ngày 8 tháng 8 năm 1861, đến Sài Gòn vào ngày 27 tháng 11 và chính thức nhậm chức vào ngày 30 tháng 11.
    Rút kinh nghiệm thất bại của Charne, Bonard chủ trương chưa đánh sâu vào các làng xã mà khẩn trương đánh chiếm những tỉnh thành. Và kế hoạch đánh chiếm Biên Hòa và Vĩnh Long liền được thảo ra, và nhanh chóng thực hiện nhằm mở rộng khả năng càn quét, bao vây, tiêu diệt các lực lượng chống đối trên một địa bàn rộng lớn từ sông Đồng Nai đến sông Tiền, sông Hậu.
    ---------------------------
    Lúc bấy giờ, sau khi Đại đồn Chí Hòa bị san bằng, triều đình Huế cho cách chức tướng Nguyễn Tri Phương, cử Khâm sai Nguyễn Bá Nghi vào thay. Ở Biên Hòa, trong tay ông có khoảng ba quân, gồm những tàn binh từ Gia Định đến và những đạo quân từ miền Trung vào; còn theo Trần Văn Giàu:
    "...Ở Biên Hòa, Nguyễn Bá Nghi chủ trương giảng hòa, không muốn đánh, vin cớ là súng yếu, người ít...Và trong 7, 8 tháng, được mười mấy lần sớ tấu của Bá Nghi, biết Bá Nghi không chịu đánh mà triều đình Huế cứ điềm nhiên, cứ để Bá Nghi tại chức. Đến khi Pháp động binh, thì Bá Nghi mới bắt đầu trưng binh, thu lương và triều đình mới phái Nguyễn Tri Phương đem binh vào cứu viện."
    -----------------------------
    Sau khi chuẩn bị xong, ngày 14 tháng 12 năm 1861, Bonard vừa gửi tối hậu thơ cho tướng Bá Nghi & Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan, vừa ban lệnh khởi binh.
    Phía triều đình Huế vẫn chần chừ:
    ."..Biên Hòa lâm nguy, triều đình lại khệnh khạng, mất hết thì giờ cho việc ban kiếm, ban nhung y, ban thắt lưng cho các tướng Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp & Nguyễn Công Nhàn. Rồi còn phải đợi Khâm thiên giám coi "bản mệnh của đại tướng, tốt hay xấu"; đợi ngày tốt để "khởi mã". cho nên mấy ngàn quân do tướng Nguyễn Tri Phương chỉ huy chưa đến nơi, thì tướng Bá Nghi, tỉnh thần Nguyễn Đức Hoan đã bỏ thành Biên Hòa rồi."
    -------------------------------
    Diễn biễn trận đánh theo bài báo:
    CHIẾN DỊCH COCHINCHINE — CHIẾM VÀ ĐỐT THÀNH BIÊN HÒA, NGÀY 18 THÁNG 12 NĂM 1861
    Theo bản phác thảo của ông A. Spooner:
    …[tham gia] chiến dịch, tuy không chính thức thuộc đoàn quân, và tôi đang ở trên tàu Ondine, vẽ bản phác thảo mà tôi gửi kèm cho quý vị, thì pháo đài Biên Hòa bắt đầu nổ súng vào chúng tôi.
    Tôi nghĩ rằng độc giả của quý vị sẽ thích theo dõi trên bản đồ các chi tiết của cuộc hành quân nhỏ này trong một tỉnh mà cho đến nay chúng ta chỉ có những thông tin rất mơ hồ. Vì vậy, tôi rất vui được gửi kèm hai bản đồ: một về vị trí của thành, và một về phần lãnh thổ mới của tỉnh này — vùng đất ngày hôm nay mới được biết đến lần đầu tiên.
    Còn về diễn biến lịch sử của chiến dịch, các báo cáo chính thức sẽ thuật lại rõ hơn tôi. Qua đó, quý vị sẽ thấy rằng vào thế kỷ mười chín này, gần như trước mắt người Pháp, người ta vẫn còn thiêu sống và tàn sát phụ nữ, trẻ em và người Thiên Chúa giáo. Những hành động dã man như vậy đòi hỏi phải trừng phạt, và chúng tôi hy vọng rằng nước Pháp sẽ ra tay đủ mạnh để chấm dứt chúng.
    Ở tỉnh Biên Hòa, địa hình cao hơn tỉnh Sài Gòn; dân cư có vẻ thưa thớt, nhưng đất đai rất màu mỡ. Có vài ngọn đồi — điều hiếm thấy ở tỉnh Sài Gòn — rừng cây và những cây cổ thụ lớn khiến vùng đất này mang vẻ đẹp tươi tắn. Thú rừng nhiều vô kể, và hầu như không cần canh tác mà người ta vẫn thu hoạch được mía, bông vải, cà phê, chàm và đủ loại nhựa cây. Nói tóm lại, đối với nước Pháp, chỉ cần gieo hạt rộng rãi và thông minh là sẽ gặt hái được vinh dự lẫn lợi ích.
    Tôi dự định trong vài ngày tới sẽ đi thăm vùng lãnh thổ mới của Pháp là Poulo-Kondor (tiếng Mã Lai: Đảo Rắn), và nếu có điều gì đáng ghi lại, tôi sẽ gửi vài ghi chép về nơi đó.
    Xin quý vị nhận lời chào trân trọng của tôi.
    A. SPOONER
    Tái bút: Tiếp theo thư của tôi, dưới đây là mô tả về thành Biên Hòa, theo bản phác thảo của đội Công Binh thuộc quân đoàn viễn chinh.
    Thành Biên Hòa, tọa lạc trên bờ trái của con sông cùng tên, là một hình vuông mỗi cạnh 296 mét, với phần hình bán tròn nhô ra ở giữa mỗi mặt thành, dùng để bảo vệ sườn các góc công trình. Được người An Nam xây dựng vào khoảng năm 1789 theo bản thiết kế của đại tá Olivier, phái viên của vua Louis XVI, thành có thể chứa khoảng 15.000 quân. Tường thành xây bằng đá, cao 4 mét, đỡ một thân lũy có độ dốc thấp; phía trước tường là bờ đất rộng 8 mét, trước đó là một hào sâu 2 mét và rộng 13 mét. Người ta vượt hào qua bốn cây cầu đá, trục của chúng tương ứng với trục các phần hình bán tròn của công trình; vào bên trong qua bốn cổng hay cửa hầm nằm bên phải cầu, cách 25 mét tính từ góc lõm tạo bởi phần hình cung và các mặt thành. Vũ khí trang bị gồm đại bác nhiều cỡ nòng, cả bằng gang lẫn đồng, và một số lượng lớn súng đá. Bên trong có mười hai tòa nhà; ngoại trừ bốn cái còn lại, tất cả đều đã bị lửa thiêu rụi.
    -------------------------
    Nhà sử học Pháp A. Thomazi đã ghi lại diễn biến trận chiếm thành Biên Hòa như sau:
    "Quân Annam đã thiết lập các công sự phòng thủ trên tất cả các tuyến đường dẫn đến Biên Hòa. Họ đã xây dựng một trại có hào lũy do 3.000 quân trấn giữ tại Mỹ Hòa, nằm giữa đường từ Biên Hòa về Sài Gòn, đồng thời chặn dòng sông Đồng Nai bằng chín đập chắn kiên cố và một hàng rào cọc gỗ. Vị đô đốc quyết định tấn công đồng thời cả đường bộ lẫn đường thủy. Ông ra lệnh cho các đồn lẻ giữ thế thủ và tập trung toàn bộ lực lượng cơ động trước cửa Sài Gòn. Mọi thứ đã sẵn sàng, và sau khi tối hậu thư phát đi ngày 13 tháng 12 không được hồi âm, các cánh quân xuất phát vào lúc tảng sáng ngày 14 tháng 12.
    Cánh quân thứ nhất, do tiểu đoàn trưởng Comte chỉ huy, gồm hai đại đội lính bộ binh tinh nhuệ, 100 lính Tây Ban Nha và 50 kỵ binh cùng bốn đại bác, tiến về Gò Công và chiếm được vị trí này lúc 7 giờ 30 sáng. Cánh quân thứ hai, gồm 100 lính Tây Ban Nha và một tiểu đoàn bộ binh thủy quân cùng hai khẩu pháo, dưới quyền trung tá Domenech Diego, triển khai trước trại Mỹ Hào. Đồng thời, thuyền trưởng hạm lớn Lebris dẫn hai đại đội thủy thủ tiến theo đường sông Đồng Nai, đánh vào sườn các pháo đài trên bờ phải. Sau cùng, một hạm đội xuồng vũ trang, theo các kênh rạch tiến đến Rạch Gò Công, bắn phá các công sự — vốn cũng đang nã pháo vào các pháo hạm neo đậu trên sông Đồng Nai dưới quyền trung úy hải quân Harel của tàu Avalanche. Các pháo đài phản kích mạnh mẽ, pháo hạm Alarme trúng tới 54 phát đạn và cột buồm chính suýt bị phá hủy. Nhưng một khi những người phòng thủ nhận ra mình đang bị đe dọa bởi cuộc tấn công trên bộ, họ vội vàng rút khỏi các pháo đài — một cái nổ tung, những cái còn lại bị quân ta chiếm đóng. Các thủy thủ làm việc suốt đêm để phá hủy những đập chắn, trong khi nhà thủy văn hải quân Manen tiến hành đo độ sâu các luồng lạch.
    Sau khi những chướng ngại vật đầu tiên bị phá hủy, hai cánh bộ binh hội quân trước trại Mỹ Hòa vào ngày 15 tháng 12. Bộ binh thủy quân tấn công vào trung tâm trận địa địch, trong khi lính săn bộ uy hiếp cánh phải và lính Tây Ban Nha uy hiếp cánh trái, còn kỵ binh thực hiện động tác vòng chiếm để cắt đường rút lui. Quân Annam hoảng loạn và tháo chạy. Đô đốc Bonard, trên tàu thông tin Ondine, ngược dòng sông và đấu pháo với thành. Ngày 16 tháng 12, quân ta vượt sông Đồng Nai và chiếm đóng Biên Hòa — nơi quân Annam đã rút đi, nhưng trước khi rút đã thiêu sống nhiều tù nhân Thiên Chúa giáo. Chúng ta thu được tại đây 48 khẩu đại bác và 15 chiếc thuyền chiến. Chiến dịch chỉ khiến ta tổn thất 2 người chết và vài người bị thương."
    ----------------------------
    Sử gia Phạm Văn Sơn cho biết thành Biên Hòa không hề bị bỏ ngỏ, mà đã chống trả quyết liệt mới cam chịu thất thủ. Ông kể:
    "Sáng sớm ngày 16 tháng 12, quân Pháp tấn công quân ta trên cả hai mặt đường. Chiến hạm Pháp lợi dụng nước lên, Trung tá Trung tá Domenech Diégo được lệnh xung phong cho quân ào ạt bức thành, nã đại bác vào trong như long trời lở đất, yểm trợ cho quân thủy và quân bộ kéo lên. Tuần Phủ Nguyễn Đức Duy, Án sát Lê Khắc Cẩn chống đỡ suốt ngày, xét thấy giữ không xong, nhờ đêm tối lui quân về Hồ Nhĩ...Ngày 17 tháng 12 năm 1861, liên quân vào trong thành."
    Theo GS. Giàu thì:
    " Thấy tướng Bá Nghi cùng tàn quân lui về ở Bình Thuận, tướng Tri Phương cũng cho dừng quân lại ở đây, mà không tiến đánh đối phương để ủng hộ cho nghĩa binh ở các tỉnh Nam Kỳ đang rầm rộ nổi lên...Tội lỗi của triều đình còn nặng nề hơn nữa, khi quân ứng nghĩa khắc phục gần hết các các thôn xã thì Huế đang tính chuyện nghị hòa, nhượng hẳn ba tỉnh miền Đông..."




    - Hình trên (trang 136–137): Cảnh tàu chiến Pháp trên sông Đồng Nai, khói bốc lên từ

    thành Biên Hòa đang bị đốt cháy :



    VIEW: L'illustration : journal universel v.39 1862 covering January-June 1862.

    No comments:

    Post a Comment